Giải toán trực tuyến W | A




Vẽ đồ thị trong Oxyz plot3D(f(x,y),x=..,y=..)
Vẽ đồ thị trong Oxy plot(f(x),x=..,y=..)
Đạo hàm derivative(f(x))
Tích phân Integrate(f(x))


Giải toán trực tuyến W|A

MW

Hiển thị các bài đăng có nhãn khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 19 tháng 12, 2018

Phát hiện mới về chủng loài .

CÁC KHOA HỌC GIA PHÁT HIỆN 229 LOÀI MỚI TRONG NĂM 2018 .





Một con ếch sống -ở -suối mới tìm thấy từ Philippines.  Calacademy


Năm 2018, các nhà nghiên cứu đã bổ sung 229 loài thực vật và động vật mới vào cây Sự sống Trái đất. Các loài mới bao gồm 120 con ong bắp cày, 34 con sên biển, 28 con kiến, 19 con cá, bảy loài thực vật có hoa, bảy con nhện, bốn con lươn, ba con cá mập, hai con gấu nước, một con ếch, một con rắn, một con cá ngựa, một con rêu và một cây gan .

Hơn một chục nhà khoa học tại Viện hàn lâm Khoa học California cùng với vài chục cộng tác viên quốc tế đã mô tả những khám phá về loài mới.

Các nhà khoa học đã tìm thấy trên năm lục địa và ba đại dương, họ mạo hiểm vào các hẻm núi được chạm khắc trên sông, lặn xuống độ sâu đại dương và quét sạch những khu rừng mù sương. Shannon Bennett, Giám đốc Khoa học của Học viện, cho biết như vậy trong một tuyên bố mới nhất :

Các nhà khoa học chuyên ngành  đa dạng sinh học ước tính rằng có ít hơn 10 phần trăm các loài trên Trái đất đã được phát hiện. Các nhà khoa học thuộc Viện hàn lâm Khoa học California không ngừng khám phá gần và xa, từ những khu rừng quen thuộc ở sân nhà đến những địa điểm xa xôi sâu tới 500 feet dưới bề mặt đại dương. Mỗi khám phá loài có thể nắm giữ chìa khóa cho những đổi mới đột phá trong khoa học, công nghệ hoặc xã hội và giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự đa dạng của cuộc sống tạo nên hệ sinh thái thịnh vượng. Những khám phá mới này cũng làm nổi bật vai trò quan trọng mà chúng ta đóng vai trò là người quản lý của hành tinh quý giá của chúng ta.

Dưới đây là một vài điểm nổi bật từ 229 loài mới được Viện hàn lâm mô tả năm 2018.



Cá ngựa lợn Nhật Bản có kích thước bằng một hạt thạch.  Mang théo một mật mã về màu sắc, loài mới này hòa quyện hoàn hảo vào các rạn san hô phủ đầy tảo ở phía đông nam Nhật Bản, nơi nó bám chặt qua đuôi đến san hô mềm, ăn các sinh vật phù du. Nó có một đôi lồi giống như cánh trên cổ, nhưng không giống như nửa tá cá ngựa khổng lồ khác trên thế giới, cá ngựa  lợn Nhật Bản chỉ có một cặp chứ không phải hai. Chức năng của các cấu trúc giống như cánh này vẫn còn là một bí ẩn. Hình ảnh Calacademy.



Dọc theo sông Samana Norte ở Andes Colombia, nơi những bức tường hẻm núi dốc thẳng xuống mặt nước mà con người hiếm khi thường xuyên đến khu vực này, một loài thực vật có hoa tạo ra những quả mọng màu xanh da trời mỗi năm. Loài khoa học mới này phát triển mạnh ở gần những con sông chảy xiết, thường xuyên bị ngập lụt. Làm thế nào cây được thụ phấn và quả của nó phân tán vẫn còn là một bí ẩn, nhưng những người khám phá nghi ngờ quả mọng trưởng thành, có thể rơi xuống nước, trôi xuống dòng nước và đâm vào một khe đá mới để mọc lên một cây mới. Giống thực vật này đã bị đe doạ với phạm vi nhỏ, bị phân mảnh. Một đập thủy điện được đề xuất cũng đe dọa lũ lụt khu vực và nhấn chìm hoàn toàn một trong số ít các địa phương nơi loài này đang phát triển. Hình ảnh Calacademy



Một loài lươn moray mới từ Indonesia. Nằm sâu gần 1.500 feet (460 mét) bên dưới bề mặt đại dương ngoài khơi Myanmar, một loài lươn rắn mới ẩn nấp, vùi đuôi nó xuống đáy bùn. Ở đây, nó sống hoàn toàn chìm trong nước, và cũng bị che giấu trong bí ẩn. Loài mới - Ophichthus naga FPV được đặt theo tên của một vị thần Phật giáo - một con rắn đi biển, giống loài rồng với sức mạnh to lớn. Một con lươn rắn khác và hai con lươn moray khác cũng tham gia vào cây sự sống trong năm nay.  Hình ảnh Calacademy.



Sâu bên dưới vùng nước của một quần đảo Brazil xa xôi, một nhóm các nhà khoa học đã phát hiện ra một con cá rất rực rỡ đến nỗi họ đã không chú ý đến một con cá mập Sixgill khổng lồ bay lơ lửng trên chúng trong khoảnh khắc thú vị được ghi lại trên máy ảnh. Các nhà nghiên cứu đã đặt tên cho loài cá rực rỡ này theo tên của nữ thần sắc đẹp Hy Lạp, Aphrodite. Aphrodite Tosanoides kết hợp với 18 loài cá mới khác, bao gồm một loài cá sống sâu khác từ Đảo Phục Sinh, cá bống mới và cá chuồn từ Tây Thái Bình Dương và một số loài cá rạn san hô mới từ Đông Đại Tây Dương. Hình ảnh Calacademy.





Năm nay các khoa học gia cũng đưa 3 loài cá mập sống sâu mới ra ánh sáng, bao gồm một con mèo lùn giả lùn bơi trên 3.000 feet (915 mét) dưới bề mặt đại dương. Ngư dân địa phương thường xuyên bắt và thả những con cá mập sống sâu khi câu cá thương mại cho cá mập gulper. Mặc dù có rất ít giá trị tại chợ cá địa phương, Planonasus notifyus là vô giá đối với khoa học. Hình ảnh qua Calacademy.



Một loài rắn san hô có dải màu đen và trắng có dải dài làm các nhà nghiên cứu ngạc nhiên khi họ phát hiện ra nó hơn 10 năm trước trên đảo Dinagat ở phía đông nam Philippines. Loài mới, được mô tả chính thức trong năm nay là Calliophis salitan, có đuôi màu cam sáng không giống như họ hàng đuôi xanh sống trong khu vực. Loài mới đến này , thuộc một nhóm các loài san hô châu Á có nọc độc, chỉ được tìm thấy ở Philippines. Hình ảnh Calacademy.



Nhện có vòng quay nhanh nhất trên Trái đất! Những con nhện thuộc họ Selenopidae gần đây đã được phát hiện có vòng quay nhanh nhất trong số các loài động vật trên hành tinh. Năm nay, 3 loài mới gia nhập nhóm này , trong đó có một loài đến từ Ai Cập. Loài này ban đầu được thu thập vào những năm 1800 nhưng chỉ gần đây mới được công nhận là mới đối với khoa học khi một nhóm các nhà sicnetists phát hiện ra nó trong bộ sưu tập của Bảo tàng Oxford. Hình ảnh Calacademy.

Nguồn :   https://earthsky.org/earth/new-species-2018


 ------------------------------------------------------------------------------------------- 

 Even in darkness light dawns for the upright, for those who are gracious and compassionate and righteous. Psalm 112:4 

 Mục-đích của sự răn-bảo, ấy là sự yêu-thương, bởi lòng tinh-sạch, lương-tâm tốt và đức-tin thật mà sanh ra. I Ti-mô-thê 1:5


Chủ Nhật, 11 tháng 3, 2018

THÔNG TIN KHOA HỌC .Phần 5.


THÔNG TIN KHOA HỌC .

Phần 5.



Lỗ hổng bảo mật đe dọa tất cả điện thoại, máy tính
Logo của hãng Intel.
Các nhà nghiên cứu bảo mật đã tiết lộ một loạt các lỗ hổng bảo mật mà họ cho là có thể tiếp tay cho các tin tặc lấy cắp thông tin nhạy cảm từ hầu hết các thiết bị máy tính hiện đại có chứa con chip của của các hãng Intel, Advanced Micro Devices và ARM Holdings.
Ảnh hưởng đến sản phẩm của Intel là rõ ràng nhất, nhưng một số thiết bị khác cũng bị ảnh hưởng như máy tính xách tay, máy tính để bàn, điện thoại thông minh, máy tính bảng và máy chủ internet. Hãng Intel và ARM khẳng định rằng vấn đề không phải là lỗ hổng thiết kế, nhưng yêu cầu người dùng tải bản vá và cập nhật hệ điều hành để khắc phục.
Ông Brian Krzanich, Giám đốc điều hành Intel, cho kênh truyền hình CNBC biết trong một cuộc phỏng vấn: "Điện thoại, máy tính cá nhân, tất cả mọi thứ sẽ chịu một số tác động, với mức độ khác nhau tùy theo mỗi sản phẩm."
Các nhà nghiên cứu dự án Google Project Zero của công ty Alphabet Inc, kết hợp với các nhà nghiên cứu học thuật và công nghiệp từ nhiều quốc gia, đã khám phá ra hai sai sót.
Sai sót đầu tiên, còn được gọi là Meltdown, ảnh hưởng đến các chip Intel và cho phép tin tặc đọc bộ nhớ máy tính và ăn cắp mật khẩu. Sai sót thứ hai, được gọi là Spectre, ảnh hưởng đến các con chip của Intel, AMD và ARM và cho phép các hacker có thể lừa bằng các ứng dụng miễn phí không lỗi để đánh cắp thông tin bí mật.
Các nhà nghiên cứu cho biết Apple Inc và Microsoft Corp đã có bản vá cho người dùng máy tính để bàn bị ảnh hưởng bởi Meltdown. Microsoft từ chối bình luận và Apple chưa hồi đáp yêu cầu bình luận.






Người phụ nữ đầu tiên đoạt 'Nobel toán học' qua đời ở tuổi 40
 Maryam Mirzakhani, giáo sư của Đại học Stanford, đồng thời là người phụ nữ đầu tiên và duy nhất đoạt giải thưởng toán học Field danh giá, đã qua đời ở độ tuổi 40.
Theo Guardian, thông báo từ Đại học Stanford cho biết giáo sư Mirzakhani qua đời ngày 15/7 do ung thư vú. Bà bị chẩn đoán mắc căn bệnh này 4 năm trước.
Nhà toán học 40 tuổi này là giáo sư của Đại học Stanford từ năm 2008 và cũng là người phụ nữ đầu tiên của Iran được bầu vào Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (NAS) hồi tháng 5/2016.
Tổng thống Iran Hassan Rouhani nói sự ra đi của thiên tài toán học Maryam Mirzakhani là nỗi đau lớn. Trong khi đó, Ngoại trưởng Iran Mohammad Javad Zarif cũng bày tỏ sự tiếc nuối.
"Giáo sư Maryam Mirzakhani, thiên tài trẻ tuổi của Iran, đã qua đời. Thông tin này khiến tôi và mọi người dân Iran, những người luôn tự hào về các nhà khoa học ưu tú của đất nước, vô cùng đau đớn", ngoại trưởng Iran khẳng định.
Nguoi phu nu dau tien doat 'Nobel toan hoc' qua doi o tuoi 40 hinh anh 1
Sinh thời, Maryam Mirzakhani từng mơ ước trở thành một nhà văn. Tuy nhiên, niềm đam mê toán học cháy bỏng giúp bà nhận được nhiều giải thưởng trong lĩnh vực này ngay từ khi còn trẻ.
Tốt nghiệp cử nhân toán học tại Đại học Công nghệ Sharif của Iran vào năm 1999, Mirzakhani sang Mỹ và lấy bằng tiến sĩ toán học của Đại học Harvard vào năm 2004.
Năm 2014, bà trở thành nhà toán học nữ đầu tiên nhận giải thưởng Field, được coi là giải Nobel trong lĩnh vực toán học.
Đại học Stanford cho biết nhà toán học Iran chuyên nghiên cứu các lý thuyết như không gian modul, thuyết Teichmuller, hình học phi Euclid,... vốn được coi là những chuyên ngành rất khó.
Các công trình nghiên cứu của Mirzakhani tập trung vào hình học phức tạp và có ý nghĩa trong nhiều lĩnh vực, từ mật mã học cho đến "lý thuyết vật lý về sự tồn tại của vũ trụ".
Bà từng mô tả công việc của mình "như đang lạc trong rừng rậm và tìm cách vận dụng mọi kiến thức nhằm đưa ra phương pháp mới, cùng một chút may mắn để tìm thấy lối ra"

Chủ tịch Đại học Stanford Marc Tessier-Lavigne khẳng định Maryam Mirzakhani là nguồn cảm hứng để hàng nghìn phụ nữ quyết tâm theo đuổi toán học cũng như các ngành khoa học khác.
Xem  https://goo.gl/XNksnG


Trí tuệ nhân tạo có thể có phản ứng ngược



Kết quả hình ảnh cho trí tuệ nhân tạo

Với những tiến triển trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, nguy cơ do các tin tặc gây ra khi sử dụng công nghệ này để mở các cuộc tấn công tàn độc ngày càng tăng, các nhà nghiên cứu hàng đầu cảnh báo trong một phúc trình được công bố ngày 21/2.
Chẳng hạn như các tin tặc có thể sử dụng trí tuệ nhân tạo để biến các máy bay không người lái dùng trong tiêu dùng và các loại xe tự hành trở thành vũ khí, các nhà nghiên cứu thuộc các trường đại học như Oxford, Cambridge và Yale cũng như các tổ chức như OpenAl được Elon Musk hỗ trợ viết trong một phúc trình.
Phúc trình có tên “Dùng trí tuệ nhân tạo một cách hiểm ác” cảnh báo trước các mối đe dọa an ninh khác nhau do việc sử dụng không đúng cách trí tuệ nhân tạo.
Chẳng hạn như các loại xe tự hành, có thể được điều khiển để hiểu sai một bảng hiệu giao thông và gây ra tai nạn, trong khi một loạt các máy bay không người lái, điều khiển bằng một hệ thống trí tuệ nhân tạo có thể sử dụng để do thám hay mở những cuộc tấn công nhanh chóng, có phối hợp, phúc trình cho biết.
Theo phúc trình, những máy móc thông minh, có thể hạ giảm chi phí những cuộc tấn công trên mạng bằng cách tự động hóa một vài công tác cần nhiều nhân lực và hữu hiệu hơn trong việc tiêu diệt các mục tiêu.
Một ví dụ phúc trình đề cập đến là “lừa đảo qua mạng” khi kẻ tấn công dùng những thông điệp cá nhân hóa cho mỗi mục tiêu nhắm đến, để lấy cắp tin tức nhạy cảm hay tiền bạc.
Trên mặt trận chính trị, trí tuệ nhân tạo có thể được sử dụng để do thám, tạo nên nhiều phương cách tuyên truyền có mục tiêu và loan truyền tin thất thiệt.
Kết quả hình ảnh cho trí tuệ nhân tạo
Chẳng hạn như “những video giống như thật” về các nhà lãnh đạo quốc gia dường như đưa ra những lời bình luận gây tổn thương mà họ chưa bao giờ nói, có thể được làm bằng cách sử dụng những cải tiến về hình ảnh và tiến trình ghi âm, theo phúc trình.
Trí tuệ nhân tạo có thể đã được dùng để tạo ra những hình ảnh giả mạo, thêm vào người khác trong video. Chẳng hạn như video có tên là “deepfakes” hoán đổi khuôn mặt các diễn viên trong phim dành cho người lớn để tạo ra các bộ phim giả.
Các nhà nghiên cứu nói những kịch bản trong phúc trình không phải là những tiên đoán rõ ràng về các phương thức sử dụng trí tuệ nhân tạo một cách bất lương—một vài kịch bản về phương diện kỹ thuật có thể không thể sử dụng được trong năm năm tới trong khi một số đã được sử dụng dưới một dạng thức hạn chế.
Phúc trình ngày 21/2 không đưa ra cách thức rõ ràng để chặn tình trạng này.





SpaceX sắp phóng 2 vệ tinh truyền internet đầu tiên


Tên lửa Falcon 9 của SpaceX phóng từ mũi Canaveral, Florida, 6/2/2018.


SpaceX sẽ tiếp tục phóng tên lửa Falcon 9 vào cuối tuần này. Tên lửa dự kiến phóng đi từ California vào sáng 18/2, mang theo vệ tinh quan trắc trái đất có tên Paz của Tây Ban Nha.
Tên lửa cũng sẽ mang theo 2 vệ tinh là các mẫu thử nghiệm do SpaceX chế tạo để thử công nghệ truyền dẫn internet từ vũ trụ.
Việc đưa lên vệ tinh thử nghiệm này, có tên Microsat-2a và Microsat-2b, là bước đi lớn đầu tiên trong kế hoạch dài hạn của SpaceX về chế tạo vệ tinh truyền dẫn internet.
Công ty muốn tạo ra mạng lưới khổng lồ gần 12.000 vệ tinh hoạt động với sự phối hợp nhịp nhàng trong quỹ đạo bên trên trái đất, truyền internet tới các anten thu trên bề mặt hành tinh.
4425 vệ tinh sẽ ở cách trái đất 1126 km, 7518 vệ tinh khác sẽ ở cách 320 km và hoạt động trên một tần số vô tuyến khác. Toàn bộ số lượng vệ tinh khổng lồ sẽ liên tục chuyển động quanh hành tinh và về lý thuyết sẽ truyền dẫn tín hiệu đến bất kỳ chỗ nào trên trái đất.
SpaceX tiên liệu rằng hệ thống này, có tên là Starlink, sẽ mang lại lợi nhuận lớn. Các dự báo tài chính mà Wall Street Journal có được hồi năm 2017 cho thấy công ty dự kiến sẽ có hơn 40 triệu thuê bao dịch vụ vào năm 2025, đạt lợi tức 30 tỷ đôla trong năm đó.
Sẽ có nhiều vấn đề phức tạp đối với hệ thống mà SpaceX cần phải xử lý trước. Công ty cần có khả năng đồng thời phối hợp hàng ngàn vệ tinh không ở trong quỹ đạo địa tĩnh, đồng nghĩa là chúng sẽ không đứng ở một vị trí cố định bên trên hành tinh.
Tiếp đó là cần có công nghệ cần thiết để thu được internet ở trên bề mặt trái đất. Các vệ tinh sẽ liên tục di chuyển qua các vùng đất khác nhau, do đó các anten thu sẽ cần phải nhanh chóng tìm ra vệ tinh nào sẽ kết nối tốt nhất tại một thời điểm cụ thể.
(theverge.com, mercurynews.com)




Công nghệ thực tế ảo cho phép người sử dụng đi vào một thế giới khác thông qua cảnh vật và âm thanh. Giờ đây, các nhà nghiên cứu còn tạo điều kiện cho chúng ta chạm vào thực tế ảo nữa, khiến cho thế giới ảo còn có vẻ thật hơn nữa. Khả năng cảm nhận được một vật thể trong thế giới ảo có khá nhiều ứng dụng thực tế.









Rất khó để mở những quyển sách và tài liệu cổ xưa được niêm phong mà không làm hư hại chúng. Giờ đây, các nhà khoa học ở Thụy Sĩ đã hoàn thiện một kỹ thuật X-quang để đọc các tài liệu dễ hỏng mà không cần phải chạm vào chúng.





Lưu giữ các tài liệu kỹ thuật số trong các ngân hàng bộ nhớ thương mại (còn được gọi là công nghệ lưu trữ đám mây) là cách lưu trữ lâu dài những tài liệu, hình ảnh, phim, nhạc một cách tiết kiệm và tiện lợi. Người sử dụng cá nhân cũng như doanh nghiệp có thể truy cập từ bất kỳ đâu và chia sẻ dữ liệu với bất kỳ ai mà họ chia sẻ mật mã. Các nhà cung cấp như Dropbox, Google Drive hay Amazon S3 nói dịch vụ của họ an toàn bảo mật tuyệt đối, nhưng các chuyên gia máy tính nói cách bảo mật nên nằm trong tay người sử dụng.









Stanford thử vaccine ung thư trên người sau thành công với chuột
Một loại vaccine ung thư thành công đến 97% trong việc loại bỏ khối u ở chuột giờ chuyển sang giai đoạn tiếp theo là thử nghiệm trên người, và trung tâm làm ra vaccine này thuộc Đại học Stanford hiện đang tìm kiếm tình nguyện viên.

Dù không hẳn là một loại vaccine theo định nghĩa thông thường có thể mang lại khả năng miễn dịch lâu dài trong cơ thể, song nó áp dụng việc tiêm giống như vaccine để tiêm hai chất kích thích miễn dịch, chúng kích hoạt các tế bào T của hệ miễn dịch để loại bỏ các khối u trên khắp cơ thể.

Vaccine này đã được phát triển như là một phần của liệu pháp miễn dịch dùng hệ miễn dịch của cơ thể để tấn công các khối u và chống lại ung thư.

Đại học Stanford ở bang California, Mỹ

Ông Ronald Levy, giáo sư nghiên cứu ung thư tại Stanford và là tác giả chính của nghiên cứu, cho biết: "Đây mới là giai đoạn đầu và chúng tôi vẫn nghiên cứu về tính an toàn cũng như tìm cách làm cho nó tốt nhất có thể được”.

Ông nói thêm: "Làm cho hệ miễn dịch chống lại ung thư là một trong những tiến triển gần đây nhất trong lĩnh vực nghiên cứu ung thư”.

Việc điều trị sẽ gồm một lần xạ trị liều lượng thấp cộng với hai lượt tiêm tác nhân kích thích, và không có hóa trị.

Tuy nhiên, nó không bao giờ có tác dụng với mọi loại ung thư và do đó đội ngũ của Stanford đang tìm kiếm những người bị ung thư hạch bạch huyết cấp độ thấp. Họ cần khoảng 35 đối tượng để thử nghiệm lâm sàng ở người.

Theo các nhà nghiên cứu, sau khi thử nghiệm trên người, họ sẽ xin Cục Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) cấp giấy phép và quá trình này có thể mất một hoặc hai năm.

(IBTimes, Daily Mail)


Thiên tài vật lý Stephen Hawking qua đời ở tuổi 76

Stephen Hawking, nhà vật lý người Anh nổi tiếng thế giới, đã qua đời hôm 14/3, thọ 76 tuổi. Ông là người đã nghiên cứu về một loạt các chủ đề vũ trụ, từ sự khởi đầu của vũ trụ cho tới những giả thuyết về các hố đen.

Phát ngôn viên của gia đình cho biết ông đã ra đi thanh thản tại nhà riêng ở thành phố Cambridge, nơi ông làm việc trong hàng chục năm với tư cách Giáo sư Lucasia về Toán học tại Đại học Cambridge.

Trong một tuyên bố, các con ông - Lucy, Robert và Tim - nói: "Ông là nhà khoa học vĩ đại cũng như một con người phi thường, việc làm và di sản của ông sẽ còn hiện diện trong nhiều năm".

Ông Hawking được chẩn đoán bị xơ cứng cột bên teo cơ ở tuổi 21, căn bệnh về sau đã khiến ông phải ngồi xe lăn và làm ông mất khả năng nói, buộc ông phải giao tiếp qua một máy tạo giọng nói.

Các bác sĩ dự đoán ông chỉ sống thêm được vài năm, nhưng trái lại, ông đã vẫn duy trì sức khỏe, tập trung vào công việc, bao gồm tìm cách thu hẹp khoảng cách giữa Thuyết Tương đối của Albert Einstein mô tả sự chuyển động của các vật thể lớn và Thuyết Cơ học Lượng tử liên quan đến các hạt hạ nguyên tử.

Ông Hawking nói: "Mục tiêu của tôi thật đơn giản, đó là hiểu biết đầy đủ về vũ trụ, tại sao nó là như vậy và tại sao nó lại tồn tại".

Cuốn sách năm 1988 của ông, “Lược sử về thời gian”, đã trở thành một cuốn sách bán chạy nhất thế giới và làm cho ông nổi tiếng.

Giáo sư Stephen Hawking trong một buổi thảo luận ở California, 13/3/2007

Một trong những thành tựu nổi tiếng nhất của ông là nghiên cứu về hố đen, cho thấy rằng một lượng nhỏ bức xạ có thể thoát được lực hấp dẫn của chúng. Hiện tượng này thường được gọi là bức xạ Hawking.

Một dấu hiệu khác về mức độ nổi tiếng của ông Hawking là hồi tháng 10 năm ngoái, khi trường Cambridge lần đầu đưa ra luận văn năm 1966 của ông lên mạng, nhu cầu về tài liệu này đã lên cao đến mức trang web của trường đã bị sập.

Ông Hawking cũng là người ủng hộ việc đưa người tới mặt trăng và sao Hỏa, một nỗ lực mà ông cho là sẽ giúp đoàn kết nhân loại trong mục đích chung là tỏa ra, đi xa hơn ngoài trái đất.

Ông Hawking nói việc thực hiện những động thái đầu tiên đi vào vũ trụ sẽ "nâng tầm nhân loại" bởi vì việc đó sẽ phải có sự tham gia của nhiều quốc gia.

"Chúng ta đang hết dần không gian và chỉ còn có thể đi đến những thế giới khác. Đã đến lúc khám phá các hệ mặt trời khác. Tỏa ra có thể là điều duy nhất cứu chúng ta khỏi chính bản thân mình. Tôi tin rằng con người cần phải rời khỏi trái đất", ông nói hồi năm ngoái. "Nếu nhân loại muốn còn tiếp tục tồn tại thêm cho một triệu năm nữa, tương lai của chúng ta phụ thuộc vào việc dũng cảm đi đến những nơi mà không ai khác đã đi tới trước đó”.

Thiên tài vật lý người Anh có một chút gắn bó với Việt Nam. Năm 1990, ông nhận làm cha đỡ đầu cho cô Nguyễn Thị Thu Nhàn, sinh năm 1980, là trẻ mồ côi tại Làng SOS ở Hà Nội. Đến mùa đông năm 1997, ông đã sang Việt Nam thăm cô Nhàn. Sau đó 3 năm, người cha đỡ đầu đã đón cô Nhàn sang Anh thăm gia đình ông trong 1 tháng.
















Love not the world, neither the things that are in the world. If any man love the world, the love of the Father is not in him. For all that is in the world, the lust of the flesh, and the lust of the eyes, and the pride of life, is not of the Father, but is of the world.

 1 John 2:15-16 KJV

 Chớ yêu thế gian cùng những gì trong thế gian. Nếu ai yêu thế gian thì sự kính yêu Thượng Đế không ở trong người ấy.

 I Giăng 2:15





Thứ Bảy, 2 tháng 7, 2016

Sử dụng dữ liệu trong nghiên cứu biến đổi khí hậu

 Sử dụng dữ liệu trong nghiên cứu biến đổi khí hậu.

1. Trái đất và quá trình biến đổi khí hậu .

Nhóm nghiên cứu được NSF hỗ trợ phát triển các phương pháp hướng dữ liệu để tinh chỉnh dự đoán khí hậu, phân tích sự thay đổi khí hậu trong các cuộc thám hiểm

expeditions
Một hệ thống giám sát nước toàn cầu phát hiện uốn khúc của sông Ucayali ở Nam Mỹ.


Năm 2016 trái đất được ghi nhận là nóng nhất, theo NASA kỷ lục về nhiệt độ mới đã được thiết lập trong sáu tháng đầu tiên . Biến đổi khí hậu, kết hợp với ảnh hưởng của El Nino, là lý do chính đằng sau sự thiết lập nhiệt độ kỷ lục này .
Mặc dù xu hướng và rủi ro do khí hậu ấm lên nói chung là đã được biết đến, nhưng các nhà nghiên cứu vẫn chưa chắc chắn lắm về những tác động xã hội và môi trường mà nó sẽ gây ra.
Do sự không chắc chắn này, nên những câu hỏi quan trọng liên quan đến an ninh lương thực, nguồn nước, đa dạng sinh học, và các vấn đề kinh tế-xã hội khác vẫn chưa được giải quyết.
 Sự khắc nghiệt do thay đổi thời tiết sẽ như thế nào? Những biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng đến hệ sinh thái đa dạng trên địa cầu ra sao ? Việc trả lời những câu hỏi này cùng nhiều vấn đề quan trọng khác đòi hỏi cách tiếp cận mới có thể giúp các chính phủ và cá nhân đáp ứng tốt hơn với điều kiện thay đổi khí hậu.
Năm 2010, Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF) đã trao tặng một khoản kinh phí 10 triệu USD về Chương trình Thám hiểm máy tính tài trợ cho một nhóm nghiên cứu thuộc trường đại học Minnesota sử dụng phương pháp tiếp cận hướng dữ liệu để giải quyết những thách thức quan trọng trong khoa học biến đổi khí hậu.
Phương pháp tiếp cận hướng dữ liệu đã được chứng minh rất hữu ích trong một số lĩnh vực khoa học, từ khoa học vật liệu đến nghiên cứu gen sinh vật.
Dự án này, được gọi là " Tìm hiểu biến đổi khí hậu: Một phương pháp tiếp cận hướng dữ liệu " , đã phát triển các phương pháp sử dụng dữ liệu khí hậu và hệ sinh thái từ nhiều nguồn khác nhau để tinh chỉnh các dự báo và xác định những thay đổi về khí hậu . Những nguồn này có thể bao gồm tất cả mọi thứ từ vệ tinh - và các cảm biến trên mặt đất, để mô phỏng mô hình khí hậu và các thông tin quan sát cho các quá trình khí quyển, đại dương và đất liền.

"Những phương pháp tiếp cận sáng tạo này giúp cho việc cung cấp sự hiểu biết mới về bản chất phức tạp của hệ thống Trái đất và cơ chế đóng góp vào sự tác động xấu của biến đổi khí hậu", Vipin Kumar, giáo sư về khoa học máy tính tại Đại học Minnesota và trưởng nhóm nghiên cứu chính cho biết .
Kết quả hình ảnh cho Vipin Kumar,
http://www-users.cs.umn.edu/~kumar/

"Những hậu quả này có thể bao gồm tăng tần suất các vụ cháy rừng, thay đổi chế độ mưa, và xu hướng cho các sự kiện cực đoan - sóng nhiệt, hạn hán và lũ lụt, ví dụ như có thể dẫn đến những thảm họa môi trường"
Nhóm nghiên cứu đã áp dụng phương pháp tiếp cận hướng dữ liệu của mình cho một loạt các câu hỏi cụ thể mà do sự không chắc chắn khoa học, cho đến nay vẫn đang giới hạn khả năng hiểu biết các điều kiện thay đổi và thiết kế các chính sách chủ động để giải quyết chúng.

2. Mô hình của các biến cố mưa cực đoan. 

Năm 2012, nhóm nghiên cứu đã xuất bản một bài báo trên tạp chí Biến đổi khí hậu tự nhiên (Nature Climate Change) mô tả các kết quả của một nghiên cứu hướng dữ liệu về lượng mưa ở Ấn Độ. Bài báo đã chỉ ra có một sự gia tăng ổn định và quan trọng trong sự thay đổi địa lý của các trận mưa cực đoan tại Ấn Độ trong vòng nửa thế kỷ qua, giải quyết một cuộc tranh cãi từ lâu đã gây ra sự bế tắc về hoạch định chính sách.
"Hiểu biết hiện tại của chúng tôi về mô hình địa lý của những trận mưa lớn và sự thay đổi của chúng theo thời gian dẫn đến việc quản lý các tài nguyên nước và nguy cơ lũ lụt cũng như các cuộc đàm phán chính sách liên quan đến đô thị hóa hoặc kiểm soát lượng khí thải", các nhà nghiên cứu đã viết trong bài báo năm 2012.   " Như vậy, tại các khu vực dễ bị tổn thương của thế giới, nơi lũ lụt có thể gây thiệt hại nhiều sinh mạng và ảnh hưởng đến nền kinh tế, hoặc tại các quốc gia đang phát triển trong đó có thể góp phần đáng kể vào việc kiểm soát khí quyển các khí nhà kính, các tiến bộ khoa học vĩ mô là hết sức cần thiết."
Vasant Honavar, cựu Giám đốc chương trình NSF's Division of Information and Intelligent Systems cho biết, bài báo này đã chứng minh dược tiềm năng của phương pháp tiếp cận hướng dữ liệu của nhóm nghiên cứu.
"Bài báo của Tạp chí Nature Climate Change đã cung cấp một gợi ý về cách thức mà phương pháp khai thác dữ liệu tinh vi này có thể giúp lấp đầy những khoảng trống trong sự hiểu biết của chúng ta về sự biến đổi khí hậu, và cuối cùng đưa ra những hiểu biết tích cực để giảm thiểu những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đối với con người và môi trường", ông nói.
Kết quả hình ảnh cho Vasant Honavar
http://pennstate.academia.edu/VasantHonavar

3.Giám sát động học mặt nước.
Đối với một công trình khác sử dụng những phương pháp này, các nhà nghiên cứu đã xây dựng một hệ thống giám sát động lực học các cơ thể bề mặt nước toàn cầu sử dụng dữ liệu từ vệ tinh quan trắc Trái đất của NASA. Hệ thống này có thể xác định một loạt các thay đổi thủy văn, từ dòng chảy của những con sông đến việc giảm thiểu và tăng trưởng các cơ thể nước do hạn hán, các sông băng tan chảy, và việc xây dựng đập. (Công chúng có thể hình dung những thay đổi xảy ra trong cơ thể nước trên toàn thế giới bằng cách sử dụng một trình xem web.như sau http://arizona-umh.cs.umn.edu/WaterDynamicsMappingReBuiltBeta/)

Một ví dụ về sức mạnh đáng kể của các công cụ giám sát này là các nhà nghiên cứu đã xác định những gì thuộc về các đập nhiều hơn gấp 10 lần so với thông tin từ một nhóm các nhà khoa học đã ghi nhận trong suốt thời gian 15 năm được ghi trong niên giám cơ sở dữ liệu toàn cầu về đập và hồ chứa nước .
"Điều này cho thấy quy mô của khoảng trống kiến ​​thức trong công cụ giám sát nước hiện có và sự hứa hẹn trong việc sử dụng dữ liệu viễn thám để giám sát toàn cầu về động lực học mặt nước ", Kumar nói.



http://atlas.gwsp.org/

4. Dự đoán những thay đổi về trào lưu ven biển.
Một nghiên cứu thứ ba về khí hậu theo hướng dữ liệu được mô tả trong bài báo đăng trên tạp chí Nature năm 2015, nhóm nghiên cứu đã so sánh mô hình  22 trạng thái khí hậu từ các nhóm nghiên cứu khác trên khắp thế giới. Nhóm nghiên cứu đang tìm kiếm sự đồng thuận giữa các mô hình dự báo sự tác động của biến đổi khí hậu đối với trào lưu ven biển trong đại dương - là quá trình theo đó, các vùng nước lạnh chìm sâu, giàu dinh dưỡng trào lên bề mặt.
Các mô hình chúng ta phân tích một cách nhất quán dự đoán thêm nhiều hiện tượng trào lưu dọc theo bờ biển, một hiện tượng mà cuối cùng sẽ ảnh hưởng đến sự phân bố địa lý của đa dạng sinh học biển, , tác động thủy sản và các khía cạnh khác về thể trạng đại dương.

Các nghiên cứu khác của nhóm như:
-Ứng dụng kỹ thuật cơ khí nhằm theo dõi các vụ cháy rừng và các đồn điền dầu cọ ở vùng nhiệt đới.
-Phân tích cấu trúc của hệ thống khí hậu để xác định các kết nối từ xa, như trong sự chuyển động El Nino miền nam .
-Tạo ra một khuôn khổ có thể kết hợp dữ liệu từ nhiều mô hình khí hậu toàn cầu để đưa ra dự đoán khu vực tốt hơn về lượng mưa.

Tháng 6 năm 2016 ACM Hội nghị SIGIR về nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực Thu hồi thông tin , giáo sư Kumar đưa ra một bài phát biểu về cách xử dụng máy và khai thác dữ liệu cao cấp mà nhóm của ông đã thực hiện trong việc tìm hiểu tác động biến đổi khí hậu có thể có liên quan đến lĩnh vực hoàn toàn khác nhau của sự thu hồi thông tin.

"Đây là một dự án đầy tham vọng táo bạo với một tầm nhìn hấp dẫn và toàn diện", Sylvia Spengler, giám đốc chương trình tại Phòng Thông tin và hệ thống thông minh của NSF cho biết. "Với khả năng biến đổi, nó đã cung cấp một cơ hội duy nhất để thăng tiến sự hiểu biết về khí hậu và các sự kiện cực đoan thông qua một loạt các phương pháp tính toán mới."

- Aaron Dubrow, Quỹ Khoa học Quốc gia (703) 292-4489 adubrow@nsf.gov

Điều sát viên
Vipin Kumar
Alok Choudhary
Auroop Ganguly
Jonathan Foley
Shashi Shekhar
Nagiza Samatova
Arindam Banerjee
Fredrick Semazzi
Abdollah Homaifar

Tổ chức liên quan / Viện nghiên cứu
Northeastern University
Northwestern University
North Carolina State University
University of Minnesota-Twin Cities
North Carolina Agricultural & Technical State University

Chương trình liên quan
Hành trình về Computing

Các giải thưởng liên quan
#1028746 Collaborative Research: Understanding Climate Change: A Data Driven Approach
#1029166 Collaborative Research: Understanding Climate Change: A Data Driven Approach
#1029711 Collaborative Research: Understanding Climate Change: A Data Driven Approach
#1029731 Collaborative Research: Understanding Climate Change: A Data Driven Approach


Trần hồng Cơ
Tham khảo và lược dịch
Saigon , 21/05/2016


Nguồn
http://www.nsf.gov/discoveries/

-------------------------------------------------------------------------------------------

If you know about what you are talking about , you have something more valuable than gold and jewels -

 Có nhiều vàng và châu ngọc , nhưng miệng có tri thức là bửu vật quý giá vô song .

Châm ngôn 20:15


Thứ Tư, 22 tháng 6, 2016

THÔNG TIN KHOA HỌC . Phần 4 .

THÔNG TIN KHOA HỌC .

Phần 4 .


Làm thế nào các nhà khoa học ở Trái Đất lại có thể liên lạc, gửi và nhận tín hiệu từ vũ trụ?


Bạn gọi một cuộc gọi đường xa, dù xa đến mấy, cũng có nhà mạng “đỡ lưng” và gửi tín hiệu điện thoại cho bạn. Nhưng với một tàu vũ trụ xa ngoài vũ trụ thì “nhà mạng” nào gồng gánh được?
Câu trả lời cho bạn đây: đó là hệ thống liên lạc DSN – Deep Space Network (Mạng Vũ Trụ Sâu) của NASA, một trong những hệ thống liên lạc lớn nhất và nhạy nhất trên thế giới. Tất nhiên là thế với thế giới của chúng ta thôi, biết đâu ngoài vũ trụ kia còn có một “nhà mạng” lớn mạnh hơn cả NASA của chúng ta?
Ghi chú thêm cho các bạn chưa biết, Deep Space – vũ trụ sâu là phần không gian nằm ngoài tầm ảnh hưởng của Trái Đất, tức là khoảng không xa hơn Mặt Trăng trở ra.
DSN là dàn ăngten liên lạc radio quốc tế khổng lồ của NASA đặt tại ba địa điểm: California, Mỹ - Madrid, Tây Ban Nha và Canberra, Úc. Nó có nhiệm vụ hỗ trợ các sứ mệnh không gian và một số vệ tinh quay quanh Trái Đất. DNS còn cung cấp những quan sát vũ trụ, cung cấp cho chúng ta thêm những thông tin để hiểu về vũ trụ rộng lớn kia. 3 mạng lưới được đặt một cách khoa học quanh thế giới (cách nhau xấp xỉ 120 kinh độ), để lỡ khi trạm này không nhận được tin nhắn do Trái Đất quay, trạm khác có thể ngay lập tức kết nối, không để gián đoạn liên lạc.
Tất cả đều được liên lạc bằng sóng radio. Loại sóng này truyền đi với vận tốc ánh sáng (299.792.458 m/s – 1.079.252.849 km/h, hơn 1 tỷ km/h). Nhưng để sóng truyền về tới hệ thống mặt đất, thì Voyager 1, tàu không người lái hiện xa Trái Đất nhất hiện tại, sẽ phải mất 17 tiếng 15 phút và 57 giây, tăng lên mỗi ngày (thông số đo đạc vào thời điểm cách đây hơn 1 năm), bởi lẽ con tàu Voyager vẫn đang tiếp tục hành trình “rời xa Đất Mẹ” của mình. Các bạn có thể xem khoảng cách của 2 con tàu thuộc sứ mệnh Voyager với Trái Đất tại đây.
Những bộ ăngten lớn của DSN là kết nối không thể thiếu với các nhà thám hiểm vũ trụ hay với những con tàu không người lái ngoài kia. Nó cung cấp một kết nối tối quan trọng với tàu vũ trụ và cung cấp cho chúng ta những hình ảnh, những thông tin khoa học về chính Trái Đất hay những hành tinh khác, thậm chí cả chính vũ trụ.
Mỗi một cơ sở của DSN được đặt trong một địa hình nửa đồi núi, trũng lòng chảo để tạo nên một lá chắn tự nhiên ngăn chặn việc nhiễu tần số sóng radio. Những ăngten lớn tạo nên một đường truyền hai triều từ trạm DSN tới những tàu vũ trụ có và không người lái. Chúng có các khả năng:
- Lấy được những thông tin từ xa.
- Chuyển lệnh điều hành tới các tàu vũ trụ.
- Cập nhật phần mềm cho các tàu vũ trụ.
- Theo dõi vị trí và tốc độ của tàu vũ trụ
- Đo đạc nhiều loại sóng radio phục vụ cho mục đích nghiên cứu.
- Thu thập thông tin khoa học.
- Điều chỉnh hoạt động của toàn bộ mạng lưới DSN mặt đất.
Nhưng không có gì là hoàn hảo, DSN vẫn còn đó những giới hạn và trước mắt còn rất nhiều thử thách cho mạng lưới này nói riêng và toàn bộ nền khoa học khám phá vũ trụ nói chung.
- Mạng lưới DSN – Deep Space Network, với cái tên “vũ trụ sâu” làm nhiều người hiểu lầm. Hiện tại ta chưa có những dự án tương lai hay những vệ tinh liên lạc chuyên dụng để có thể sử dụng vào nhiều mục đích, nhiều nhiệm vụ khám phá. Tất cả những thiết bị truyền và nhận đều đặt tại Trái Đất, vì vậy mà thông tin đưa ra và nhận và sẽ bị khoảng cách lớn ngăn cản
- Có những sứ mệnh không gian đã hoạt động lâu hơn thời gian dự kiến, và hiện tại vẫn gửi về những dữ liệu thu thập được. Điển hình là sứ mệnh Voyager đã được bắt đầu từ năm 1977, hiện tại sứ mệnh vũ trụ này vẫn mang lại cực kì nhiều thông tin quý giá. Đây là những vậy thể nhân tạo đầu tiên đặt chân tới những nơi xa như vậy. Dù đây là tin mừng, nhưng để duy trì và tiếp túc nhận thông tin gửi về từ Voyager, ta cần những bộ xử lý và ăngten mặt đất cực kì lớn.
- Việc thay thế, bảo dưỡng tốn kém và sẽ khiến toàn bộ hệ thống trì trệ với thời gian lên tới vài tháng mỗi lần sửa.
- Có những ăngten đã gần đến lúc “từ giã cõi đời”, chúng sẽ phải được thay thế sớm.
- Tính tới năm 2020, với đà khám phá này, thì DSN sẽ phải gánh vác nhiều gấp 2 lần số sứ mệnh mà nó phải làm vào thời điển năm 2005. Việc không thay thế hệ thống DSN đã có tuổi, kèm theo càng ngày có càng nhiều nhiệm vụ không gian mà DSN phải cáng đáng, tất yếu sẽ xảy ra những hậu quả.
Theo Trí Thức Trẻ/GenK



Phát hiện chấn động: Đã tìm ra lực thứ 5 cấu tạo nên vũ trụ

Hoa Hướng Dương |
Phát hiện chấn động: Đã tìm ra lực thứ 5 cấu tạo nên vũ trụ

Toàn bộ những gì xảy xung quanh chúng ta đều do 4 lực cơ bản cấu tạo nên, thế nhưng đó chưa phải là tất cả lực tạo nên vũ trụ này!





4 lực cơ bản của tự nhiên đã biết
Phát hiện chấn động: Đã tìm ra lực thứ 5 cấu tạo nên vũ trụ - Ảnh 1.
4 lực cơ bản. Ảnh Internet.
Thế giới xung quanh chúng ta vận động và phát triển không ngừng, thế nhưng dù phức tạp như thế nào thì cũng chỉ 4 loại lực cơ bản tạo nên vũ trụ.
1. Lực hấp dẫn
Lực hấp dẫn ngự trị trong thế giới vĩ mô và được Newton phát hiện ra khi ngồi dưới gốc táo ở thế kỷ 17, đây là lực tạo nên chất "keo dính" của toàn bộ vũ trụ.
Nó hút các vật này về phía các vật khác. Nó giữ cho chúng ta ở trên mặt đất, giữ cho mặt Trăng quay quanh Trái Đất; các hành tinh quay xung quanh Mặt Trời, giữ cho các ngôi sao ở trong thiên hà và các thiên hà trong các đám thiên hà.
Sẽ ra sao nếu không có lực hấp dẫn, mọi thứ sẽ trôi nổi vô định trong vũ trụ. Do đó đây là lực phổ biến nhất vũ trụ, mọi thứ đều bị lực hấp dẫn tác động, tuy nhiên đây cũng là lực yếu nhất trong 4 lực tự nhiên.
2. Lực Điện từ
Lực điện từ được nhà vật lý người Scotland là James Maxwell khám phá vào năm 1864.
Sức mạnh của lực điện từ làm cho một thanh nam châm dễ dàng hút được một chiếc đinh bất chấp lực hấp dẫn của toàn bộ khối lượng Trái Đất tác dụng lên nó, do đó lực điện từ mạnh hơn lực hấp dẫn.
Lực điện từ tạo nên các nguyên tử bằng cách buộc các electron (mang điện tích âm) vào các hạt nhân. Do đó nếu không có lực này, những hạt cơ bản nhất sẽ không thể liên kết và sẽ không có vật chất như ngày nay.
Lực này cũng không xuất hiện ở mọi vật chất trong vũ trụ như lực hấp dẫn, nó chỉ tương tác khi hạt mang điện tích (hoặc âm hoặc dương), còn những hạt không mang điện tích như photon (hạt ánh sáng) hay neutron thì không có lực điện từ.
Miền tác dụng của lực điện từ không chỉ ngừng lại trong thế giới nguyên tử. Nó can thiệp vào cả việc tạo ra những cấu trúc phức tạp hơn. Nó gắn các nguyên tử lại bằng cách buộc chúng phải chia sẻ các electron của mình để tạo nên các phân tử.
Phát hiện chấn động: Đã tìm ra lực thứ 5 cấu tạo nên vũ trụ - Ảnh 2.
Lực hấp dẫn tác động toàn bộ vũ trụ. Ảnh minh họa.
Chính điều này tạo nên các phân tử phức tạp hơn hay nói cách khác tạo nên toàn bộ vũ trụ, nếu lực hấp dẫn phụ thuộc và tác động lên khối lượng vật thì lực điện từ lại chịu sự chi phối của điện tích mà vật đó mang.
Mặt khác phạm vi tác động của lực điện từ nhỏ hơn rất nhiều so với lực hấp dẫn, lực điện từ chỉ có phạm vi trong cấp độ nguyên tử, phân tử, (vi mô)... còn lực hấp dẫn là lực của toàn bộ vũ trụ (vĩ mô).
Đây chính là điểm khác nhau của 2 loại lực cùng mang tính kết nối vũ trụ này.
3. Lực "yếu"
Vào một đêm năm 1896, nhà vật lý người Pháp Henri Becquerel đã vô tình phát hiện sự phân rã nguyên tử và khám phá ra lực yếu này.
Vật chất nói chung không phải là bất tử, nếu đi tới tận cùng cấp độ nhỏ hơn nguyên tử, chúng ta sẽ thấy rằng có rất ít hạt sơ cấp trong hàng trăm hạt sơ cấp là "bất tử" (bền).
Còn lại đa số đều là hạt không bền, dễ bị phân rã thành các hạt bền nhỏ hơn. Lực điều khiển phân rã và biến hóa này là lực có biệt danh là "yếu".
Phát hiện chấn động: Đã tìm ra lực thứ 5 cấu tạo nên vũ trụ - Ảnh 3.

Bí ẩn về 80 % còn lại của vũ trụ sẽ được giải đáp. Ảnh minh họa

Mặc dù vẫn lớn hơn lực hấp dẫn nhiều, nhưng lực này yếu hơn lực điện từ tới 1000 lần. Miền tác dụng của nó cũng rất nhỏ. Nó chỉ có sức mạnh trong thế giới nguyên tử.
4. Lực mạnh
Các hạt nhân nguyên tử là tập hợp của các hạt proton và neutron. Tất cả các proton đều mang cùng một điện tích dương, do đó lực điện từ khiến chúng đẩy xa nhau (cùng dấu thì đẩy, trái dấu thì hút). Vậy lý do gì chúng vẫn có thể tồn tại trong nhân nguyên tử?
Đó chính là do lực mạnh, lực mạnh nhất trong 4 lực tự nhiên (Nó mạnh hơn lực điện từ tới 100 lần). Tuy nhiên phạm vi của nó cũng rất hẹp, chỉ trong phạm vi mà lực yếu tác dụng.
Phát hiện mới nhất về sự tồn tại của lực thứ 5
Phát hiện chấn động: Đã tìm ra lực thứ 5 cấu tạo nên vũ trụ - Ảnh 4.
"Siêu lực" thứ 5 là gì? Ảnh minh họa.
Tưởng chừng chúng ta đã khám phá ra đầy đủ những lực tạo nên vũ trụ khi đi sâu tới tận cấp độ nhỏ hơn nguyên tử (hạt sơ cấp). Thế nhưng những hạt nhỏ hơn vẫn được khám phá (như hạt Quark). Điều này cho phép các nhà khoa học tin rằng:
Vẫn có thể có những cấp độ nhỏ hơn mà chúng ta chưa khám phá ra, và do đó còn những lực bí ẩn chi phối cái thể giới siêu vi mô này.
Mới đây, các nhà vật lý của Hungary (đứng đầu là nhà vật lý Attila Krasznahorkay) nghĩ rằng họ đã tìm ra được bằng chứng tồn tại của nó. Một nhóm các nhà vật lý tại Viện Khoa học Hungary đã tiến hành thử nghiệm bắn các proton vào đồng vị lithium-7.
Kết quả là họ thu được một loại hạt boson mới siêu nhẹ, với trọng lượng chỉ bằng 1/34 lần một electron (mà như chúng ta biết các electron gần như không có trọng lượng).
Một nhóm các nhà khoa học đến từ Đại học California, Irvine đã công bố phân tích của họ về thử nghiệm này.
Phát hiện chấn động: Đã tìm ra lực thứ 5 cấu tạo nên vũ trụ - Ảnh 5.
Hạt photon tối hay hạt boson. Ảnh minh họa.
Theo đó, họ phát hiện ra lực bí ẩn thứ 5 mà hạt boson mang theo, không những thế phát hiện này còn lý giải 80 % bí ẩn còn lại của vũ trụ: Vật chất tối và năng lượng tối.
Vì nhiều nhà khoa học tin rằng loại hạt boson mới được phát hiện này có thể chính là "photon tối", (là hạt đối lập với photon sáng đã biết).
Phát hiện này có thể là bước đột phá trong khoa học tự nhiên nói chung cũng như vật lý nói riêng, nếu chứng minh được lực thứ 5 bí ẩn này, Câu hỏi lớn nhất về vũ trụ có thể được giải đáp và chúng ta sẽ vén được màn đêm dày đặc bên ngoài vũ trụ kia.
Nguồn: Internet và techinsider




Lực hấp dẫn: Chất keo dính của vũ trụ và vạn vật

Alex Vũ |
Lực hấp dẫn: Chất keo dính của vũ trụ và vạn vật

Nếu bạn tò mò về lý do chính mà các nhà khoa học đang đứng ngồi không yên về sóng hấp dẫn – những gợn sóng trong không-thời gian được hình thành từ sự va chạm của các lỗ đen vũ trụ và các ngôi sao nổ tung – thì đó là bởi vì nó giúp chúng ta trả lời được rất nhiều câu hỏi về lực hấp dẫn.

Trong cuộc sống thường nhật, có đến bốn lực cơ bản của tự nhiên (four fundamental forces of nature) cùng hoạt động và ảnh hưởng lên nhau, để tạo ra được thế giới mà bạn vẫn thấy.
Nếu như bạn nhìn ra cảnh vật bên ngoài trong một đêm mưa gió, bạn có thể nhận thấy được rõ tầm ảnh hưởng của bốn lực cơ bản này.
Lực hấp dẫn khiến cho những chiếc lá và những cành cây gãy rơi xuống mặt đất. Lực điện từ tạo ra ánh sáng trong ngôi nhà bạn và những tia chớp trên bầu trời. Lực hạt nhân nhẹ giúp cho sự tồn tại của các nguyên tử cấu thành vạn vật.
Và cuối cùng, lực hạt nhân nhẹ gây ra sự phân ra nguyên tử và phóng xạ, giúp cho các nhà máy điện hạt nhân hoạt động.
Lực hấp dẫn: Chất keo dính của vũ trụ và vạn vật - Ảnh 1.
 Chất keo dính của vũ trụ
Có lẽ tất cả các sinh vật tồn tại trên cuộc đời này đều đã quá quen thuộc với thứ lực đã giúp chúng dính liền với mặt đất thay vì bay lơ lửng trong không gian - lực hấp dẫn.
Nhờ có lực mà tưởng chừng là thứ lực "vô dụng" nhất trong bốn lực cơ bản của tự nhiên này, mà chúng ta biết được một chân lý - tất cả các vật đều rơi từ cao xuống thấp.
Tuy nhiên, khái niệm vạn vật hấp dẫn, tức là hấp dẫn tác động đến toàn bộ vũ trụ, chỉ được khai sinh bởi Newton vào thế kỷ 17. Trong vũ trụ của Aristotle ở thế kỷ 4 TCN, chuyển động thẳng đứng này chỉ đặc trưng cho riêng Trái đất và Mặt trăng.
Trong khi đó, Mặt trời và các hành tinh khác tại thời điểm đó được coi là một "thế giới hoàn hảo", trong đó chuyển động trong không gian của chúng mang hình dáng của một vòng tròn lý tưởng và hoàn toàn tách biệt khỏi lực hấp dẫn.
Điều này cho thấy rằng thứ mà chúng ta coi là một chân lý tất yếu ngày hôm nay, đã khiến con người phải mất đến 1687 năm để giác ngộ!
Lực hấp dẫn: Chất keo dính của vũ trụ và vạn vật - Ảnh 2.
 Newton và truyền thuyết quả táo rụng
Lực hấp dẫn ngự trị trong thế giới vĩ mô. Nó thường được coi là chất keo dính của vạn vật, bởi tính chất hút các vật này về khía các vật khác.
Ngoài việc giữ cho chúng ta đứng yên trên mặt đất, nó còn giữ cho Mặt trăng quay quanh Trái đất và các hành tinh khác quay xung quanh Mặt trời. Hay xa hơn nữa là giữa các ngôi sao ở trong dải Ngân Hà và các thiên hà trong các đám thiên hà.
Có thể bạn biết rằng đỉnh Everest là đỉnh núi cao nhất thế giới với độ cao 7.2km (tính từ mặt nước biển; đỉnh Everest thua rất nhiều đỉnh khác ví dụ như đỉnh Chimborazo tại Ecuador nếu tính từ tâm Trái đất).
Thế nhưng nó vẫn chưa là gì so với đỉnh Olympic Mons trên sao Hỏa (Mars) với độ cao xấp xỉ 25km.
Tại đây có thể bạn sẽ đặt câu hỏi: Tại sao độ cao các đỉnh núi trên Trái đất lại thua các đỉnh núi trên sao Hỏa xa đến như vậy?
Lực hấp dẫn: Chất keo dính của vũ trụ và vạn vật - Ảnh 3.
 Everest - đỉnh núi cao nhất trên bề mặt Trái đất, thể hiện cường lực của lực hấp dẫn trên hành tinh này
Câu trả lời chính là trọng lực. Khi một ngọn núi hay một tòa nhà càng cao, thì nền móng của nó sẽ phải chịu một áp lực càng lớn theo cấp số nhân.
Đối với trọng lực của Trái đất, thì khi một vật đạt tới độ cao 15km trên mặt nước biển, áp lực đặt lên nó sẽ lớn đến mức có thể nghiền nát nền móng của chính nó thành chất lỏng.
Trong môi trường sao Hỏa, thì trọng lực yếu hơn trọng lực Trái đất khoảng 2.7 lần, và đó là lý do tại sao sao Hỏa có Olympic Mons, còn chúng ta thì không bao giờ. Và trái lại, một "ngọn núi" trên một ngôi sao neutron chỉ có thể cao khoảng 5mm vì trọng lực khủng khiếp của nó.
Đặc điểm này của trọng lực Trái đất đã có khá nhiều ứng dụng trong thực tế. Vào thời xưa, một loại máy bắn đá.
Có tên gọi trebuchet đã vận dụng năng lượng hấp dẫn từ quả cân đối trọng (counterweight) để phóng các khối đá khổng lồ qua các bức tường thành tưởng chừng không thể cao hơn.
Trong thế giới hiện đại, đặc điểm này được sử dụng một cách hiệu quả nhất trong các bể bơm nước trên cao mà gần như ngôi nhà nào ở Việt Nam cũng có. Nó đồng thời cũng là điều kiện tiên quyết cho các hệ thống nhà máy thủy điện.
Lực hấp dẫn: Chất keo dính của vũ trụ và vạn vật - Ảnh 4.
 Nhà vật lý học Stephen Hawking trong môi trường không trọng lực
Nếu không có trọng lực, chúng ta sẽ trôi lơ lửng trong không gian, Mặt trăng và các hành tinh và các ngôi sao khác sẽ tan tác trong vũ trụ.
Thế nhưng để được trải nghiệm môi trường không trọng lực lại là một trải nghiệm khá thú vị. Điều đáng tiếc là đó là một đặc quyền không phải người bình thường nào cũng có được.
Tình trạng gần môi trường không trọng lực nhất mà bạn có thể được trải nghiệm mà không cần phải mất đến 20.000USD cho SpaceX của Elon Musk, đó là nhờ đến các trò chơi cảm giác mạnh tại các công viên giải trí.
Điều này là bởi khi con tàu cảm giác mạnh rơi tự do, tốc độ rơi của bạn cũng xấp xỉ tốc độ rơi của chính con tàu đó.
Còn nếu như bạn có đủ tiền để chi trả cho một chuyến du hành tham quan vũ trụ, hãy nhớ rằng tàu vũ trụ của bạn sẽ bắt buộc phải đạt đến tốc độ 7 dặm một giây, tức là khoảng 40.555km/h, để có thể vượt ra khỏi tầm kiểm soát của trọng lực Trái đất.
Nếu không thì tính mạng của bạn sẽ nằm trong tình trạng cực kỳ nguy hiểm, bởi tàu vũ trụ của bạn có thể sẽ bị rơi trở về mặt đất và nổ tung. Một con số khủng khiếp cho một cuộc tham quan nguy hiểm cũng không kém, và với một chi phí khổng lồ!
Lực hấp dẫn: Chất keo dính của vũ trụ và vạn vật - Ảnh 5.
 Liên kết làm nên sức mạnh
Lực hấp dẫn trên thực tế lại cực kỳ yếu. Nếu so sánh với các lực cơ bản của tự nhiên còn lại, thì lực hấp dẫn là lực yếu nhất. Ở mức độ các hạt sơ cấp, lực hấp dẫn gần như không đáng kể.
Trong nguyên tử hydrogen, nguyên tử cơ bản và nhẹ nhất trong số các nguyên tố vũ trụ, thì lực hấp dẫn giữa electron và proton thì nhỏ hơn lực điện liên kết vào khoảng 1040 (1 và 40 số 0 theo sau) lần.
Do đó, nếu lực điện không tồn tại để níu giữ electron và proton, lực hấp dẫn sẽ không đủ sức giữ chúng ở gần nhau với khoảng cách dưới vài chục tỷ năm ánh sáng. Nguyên tử hydrogen lúc đó sẽ phồng to ra cho đến khi chiếm trọn toàn bộ vũ trụ.
Lực hấp dẫn: Chất keo dính của vũ trụ và vạn vật - Ảnh 6.
 Cấu tạo nguyên tử hydrogen
Vì cường độ hấp dẫn phụ thuộc vào khối lượng hai vật, và vì nguyên tử hydrogen cũng vô cùng nhỏ bé (10-27 gram), nên lực hấp dẫn giữa electron và proton yếu đến vậy là phải.
Vì thế nên để thể hiện "uy quyền" của mình, lực hấp dẫn phải thể hiện nó thông qua những vật có khối lượng lớn hơn và chứa nhiều các hạt hơn. Và con số các hạt này lại lớn đến mức không tưởng tượng nổi.
Một gram nước dù có chứa tới 1024 hạt, nhưng vẫn chưa có ảnh hưởng gì. Bạn có thể cảm nhận thấy một "sức hút" kỳ lạ nào đó đến từ một cô gái nặng 50kg hay một chàng trai 70kg, nhưng tôi dám cá với bạn đó vẫn không phải là lực hấp dẫn.
Lực hấp dẫn: Chất keo dính của vũ trụ và vạn vật - Ảnh 7.
Ở cấp độ cuộc sống thường ngày của chúng ta, thì ngoài trọng lực Trái đất, lực hấp dẫn vẫn không thể đạt được sức ảnh hưởng quan trọng. Chỉ ở cấp độ thiên văn nó mới có thể tìm được tiếng nói của riêng mình.
Khối lượng của Trái đất (khoảng 6 x 1027g, tương đương 6 x 1024kg) giữ cho chính chúng ta và Mặt trăng không trôi nổi trong không gian. Mặt trời (1033g), các ngôi sao (1033g), các thiên hà (1045g), các cụm thiên hà (1046g), các đám thiên hà (1048g).
Và cuối cùng là vũ trụ giãn nở (?) tạo nên các bậc thang tăng dần về khối lượng và dựng nên một vương quốc ngày càng được mở rộng được cai trị bởi ông chủ độc tài mang tên lực hấp dẫn.
  • Title The many faces of Earth
  • Released: 22/04/2016
  • Length 00:00:30
  • Language English
  • Footage Type Animation
  • Copyright ESA
  • Description From their vantage points some 800 km high, Earth-observing satellites ‘see’ our planet in more ways than one. Different sensors see different aspects such as topography, temperature and atmospheric make-up.
http://www.esa.int/spaceinvideos/Videos/2016/04/The_many_faces_of_Earth
http://www.esa.int/Education/Teach_with_Rosetta











Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2016

CÁC KHÓA HỌC TRỰC TUYẾN MIỄN PHÍ .


CÁC KHÓA HỌC TRỰC TUYẾN MIỄN PHÍ .


Những website này mang đến hàng nghìn khóa học miễn phí từ các trường Đại học, tổ chức nổi tiếng thế giới trên nhiều lĩnh vực khác nhau.

Bên cạnh việc dành thời gian hè này cho những chuyến đi chơi xa hay những công việc làm thêm đầy trải nghiệm, bên nên bỏ ra một phần quỹ thời gian để trau dồi thêm kiến thức. Lúc này, những khóa học online vừa miễn phí, vừa linh hoạt về mặt thời gian và tiện dụng sẽ là một lựa chọn hấp dẫn.
Hè rảnh rỗi, vào ngay 6 trang web này để giỏi hơn - Ảnh 1.
Website Open Culture là một điểm bắt đầu tốt nếu bạn có thời gian rảnh hè này và muốn học thêm về một lĩnh vực nào đó. Website này theo đó liệt kê danh sách 1.200 bài giảng, video và các đoạn phát thanh đến từ các trường đại học khắp nơi trên thế giới để bạn tùy ý đánh giá. Bên cạnh nội dung phong phú, đầy đủ, Open Culture Online Courses còn được đánh giá cao ở giao diện trực quan, dễ sử dụng và thân thiện.
2. Academic Earth
Hè rảnh rỗi, vào ngay 6 trang web này để giỏi hơn - Ảnh 2.
Tương tự, Academic Earth mang đến cho người dùng những khóa học từ các trường Đại học hàng đầu thế giới như MIT, Harvard, Princeton, Stanford, Yale... Các khóa học trên Academic Earth được sắp xếp khoa học, chia theo từng mảng kiến thức và trường đào tạo, từ đó giúp người dùng không bị ngợp trước "biển" kiến thức.
3. edX
Hè rảnh rỗi, vào ngay 6 trang web này để giỏi hơn - Ảnh 3.
Với sứ mệnh tự đề ra là mang đến những khóa học chất lượng cao cho tất cả mọi người, tại bất kì đâu trên thế giới, edX được thành lập bởi Đại học Harvard và Đại học MIT vào năm 2012. Tứi nay, website này cũng trở thành một dịch vụ được yêu thích với những ai mong muốn tìm kiếm kiến thức học thuật, chính thống một cách miễn phí thông qua Internet.
4. TED-ed
Hè rảnh rỗi, vào ngay 6 trang web này để giỏi hơn - Ảnh 4.
TED-ed mang đến cách tiếp cận kiến thức thân thiện cho người xem dưới dạng video. Nhờ đó, bạn có thể sẽ được tìm hiểu những vấn đề tưởng chừng như khô khan, lý thuyết dưới cách nhẹ nhàng, hơn để tránh gây nhàm chán. Một điểm cộng cho TED-ed là hầu hết các video được thực hiện phụ đề ra rất nhiều ngôn ngữ.
5. Сoursera
Hè rảnh rỗi, vào ngay 6 trang web này để giỏi hơn - Ảnh 5.
Hợp tác với nhiều trường đại học và tổ chức uy tín trên thế giới, Coursera cung cấp cho học viên nhiều khóa học thuộc các chủ đề đa dạng hoàn toàn miễn phí dưới dạng video, tài liệu tự đọc, câu hỏi thêm và các bài kiểm tra. Coursera còn được yêu thích nhờ tính tương tác cao khi học viên có thể trao đổi với những người khác cũng ghi danh cùng khóa học thông qua diễn đàn.
6. Khan Academy
Hè rảnh rỗi, vào ngay 6 trang web này để giỏi hơn - Ảnh 6.
Khan Academy là dịch vụ học trực tuyến bắt đầu từ những đoạn video dạy học từ xa lẻ tẻ được một sinh viên tài năng của Đại học MIT và Harvard thực hiện cho người cháu của mình. Sau khi được tải lên YouTube, những đoạn video này ngay lập tức thu hút được rất nhiều sự chú ý. Hiện nay, Khan Academy có khoảng 4.200 khóa học miễn phí,
(Tổng hợp)
Theo Cú Mèo / Trí Thức Trẻ


https://www.open2study.com/courses





http://www.openculture.com/freeonlinecourses



http://www.open.edu/openlearn/free-courses











*******

Blog Toán Cơ trích đăng các thông tin khoa học tự nhiên của tác giả và nhiều nguồn tham khảo trên Internet .
Blog cũng là nơi chia sẻ các suy nghĩ , ý tưởng về nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau .


Chia xẻ

Bài viết được xem nhiều trong tuần

CÁC BÀI VIẾT MỚI VỀ CHỦ ĐỀ TOÁN HỌC

Danh sách Blog

Gặp Cơ tại Researchgate.net

Co Tran