Wikipedia

Kết quả tìm kiếm

Giải toán trực tuyến W | A




Vẽ đồ thị trong Oxyz plot3D(f(x,y),x=..,y=..)
Vẽ đồ thị trong Oxy plot(f(x),x=..,y=..)
Đạo hàm derivative(f(x))
Tích phân Integrate(f(x))


Giải toán trực tuyến W|A

Chủ Nhật, 30 tháng 11, 2014

Đố vui Việt sử - Phần 1 (câu hỏi) .

Đố vui Việt sử  

 Phần 1 (câu hỏi) .




Bài viết này của tác giả  Kim Anh Truong  đã đăng tải trên http://truongxuabancu.fpb.yuku.com/topic/1347
Xin phép được đăng lại trên Blog Toán-Cơ học ứng dụng . 
Trân trọng cám ơn .



“Đố Vui Việt Sử” là một tập thơ lục bát gồm có một trăm câu đố về lịch sử và văn học sử Việt Nam đề ra bởi luật sư Đào Hữu Dương và hai trăm câu thơ trả lời của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh.

Dụng ý của hai tác giả là dùng một thể thơ thật nhẹ nhàng và hấp dẫn để nhắc nhở các thanh thiếu niên ôn lại những trang sử Việt Nam và nuôi dưỡng tinh thần nhớ nước, thương nòi ở nơi đất khách. Tập thơ in ra lần đầu ở San Diego, vào năm 1985, đã được gửi tặng các trường dậy Việt ngữ. Cuốn sách này cũng được Trung Tâm Việt Ngữ Văn Lang ở San Jose, CA in lại để làm tài liệu dậy tiếng Việt.

Chúng tôi in lại ở đây như là một tài liệu giáo dục quý giá cho thế hệ trẻ


******************************************************


Câu hỏi của Đào Hữu Dương

1. Vua nào mặt sắt đen sì?
2. Vua nào trong buổi hàn vi ở chùa?
3. Tướng nào bẻ gậy phò vua?
4. Tướng nào dùng bút đánh lừa Vương Thông?
5. Ngựa ai phun lửa đầy đồng?
6. Voi ai nhỏ lệ ở giòng Hóa Giang?
7. Kiếm ai trả lại rùa vàng?
8. Súng ai rền ở Vũ Quang thủa nào?
9. Còn ai đổi mặc hoàng bào?
10. Nữ lưu sánh với anh hào những ai?
11. Nhà thơ lên đoạn đầu đài?
12. Tướng Tàu chui ống chạy dài Bắc phương?
13. Tướng Nam chẳng thiết phong vương?
14. Rắc lông ngỗng, thiếp nghe chàng hại cha?
15. Anh hùng đại thắng Đống Đa?
16. Đông du khởi xướng bôn ba những ngày?
17. Lũy Thầy ai đắp, ai xây?
18. Hồng-Sơn Liệp-Hộ, triều Tây ẩn mình?
19. Vua Bà lừng lẫy uy danh?
20. Ấu nhi tập trận, cỏ tranh làm cờ?
21. Vua nào nguyên-súy hội thơ?
22. Hùng-Vương quốc-tổ đền thờ ở đâu?
23. Đại vương bẻ gẫy sừng trâu?
24. Rừng Lam khởi nghĩa áo nâu anh hùng?
25. Hại dân bán nước tên Cung?
26. Đục chìm thuyền địch dưới sông Bạch-Đằng?
27. Lý triều nổi tiếng cao tăng?
28. Bình-Ngô ai soạn bản văn lưu truyền?
29. Mười ba liệt sĩ thành Yên?
30. Bỏ quan treo ấn tu tiên thủa nào?
31. Ai sinh trăm trứng đồng bào?
32. Bình-Khôi chức hiệu được trao cho người?
33. Tây-Sơn có nữ tướng tài?
34. Cần-vương chống Pháp bị đầy xứ xa?
35. Tổ ngành hát bội nước ta?
36.. Khúc ngâm Chinh-Phụ ai là tác nhân?
37. Vua nào sát hại công thần?
38. Nhà văn viết truyện Tố-Tâm trữ tình?
39. Thái-Nguyên chống Pháp dấy binh?
40. Hà-Ninh tổng đốc vị thành vong thân?
41. Vua nào mở nghiệp nhà Trần?
42. Nêu gương hiếu tử diễn âm lưu truyền?
43. Công lao văn học Nguyễn-Thuyên?
44. Lừng danh duyên hải Dinh-Điền là ai?
45. Nhà thơ sông Vị, biệt tài?
46. Vua nào chống Pháp bị đầy đảo xa?
47. Ngày nào kỷ niệm Đống Đa?
48. Biên thùy tiễn biệt lời cha dặn dò?
49. Mê-Linh xây dựng cơ đồ?
50. Bến Hàm-Tử bắt quân thù xâm lăng?
51. Húy danh Hoàng-Đế Gia-Long?
52. Tướng nào hương khói Lăng-Ông thủa giờ?
53. Rồng thiêng kết nghĩa Âu-Cơ?
54.. Thánh Trần nay có bàn thờ ở đâu?
55. Đời nào có chức Lạc-Hầu?
56. Tướng Châu-Văn-Tiếp, ở đâu bỏ mình?
57. Danh nho thường gọi Trạng Trình?
58. Cha con cùng quyết hy sinh với thành?
59. Đầm Dạ-Trạch nức uy danh?
60. Sớ dâng chém nịnh không thành, từ quan?
61. Công thần vì rắn thác oan?
62. Ai mời bô lão dự bàn chiến chinh?
63. Vua nào dòng dõi Đế-Minh?
64.. Vĩnh-Long thất thủ, liều mình tiết trung?
65. Ngày nào trẩy hội Đền Hùng?
66. Ngày nào sông Hát, nhị Trưng trẫm mình?
67. Núi nào ngự trị Sơn-Tinh?
68. Sông nào ghép lại bút danh thi hào?
69. Gốc nguồn hai chữ đồng bào?
70. Bôn ba tổ chức phong trào Đông du?
71. Hùm Thiêng trấn đóng chiến khu?
72. Vua nào thành lập Hội Thơ Tao-Đàn?
73. Dẹp Thanh giữ vững giang san?
74. Thiết triều nằm lả khiến tàn nghiệp Lê?
75. Hóa-Giang giữ trọn lời thề?
76. Mười năm kháng chiến chẳng nề gian lao?
77. Móng rùa thần tặng vua nào?
78. Bình Chiêm, Dẹp Tống, Lý trào nổi danh?
79. Dâng vua sách lược “Trị-Bình”?
80. Trạng nguyên tướng xấu ví mình hoa sen?
81. Người Tàu dựng đất Hà-Tiên?
82. Họ Lương chống Pháp, Thái-Nguyên bỏ mình?
83. Quy-Nhơn thất thủ, quyên sinh?
84. Lê Triều sử ký soạn thành họ Ngô?
85. Công thần mà bị quật mồ?
86. “Vân-Tiên” tác giả lòa mù là ai?
87. Đại-Từ nổi tiếng tú tài?
88. Đem nghề in sách miệt mài dạy dân?
89. Dâng vua cải cách điều trần?
90. Sánh duyên công chúa Ngọc-Hân, vua nào?
91. Thi nhân nổi loạn họ Cao?
92. Xây thành đắp lũy, họ Đào là ai?
93. Họ Phan lãnh ấn khâm sai?
94. Phòng khuya vọng tiếng thuyền chài tương tư?
95. Đông y lừng tiếng danh sư?
96. Lời thề diệt địch trên bờ Hóa-Giang?
97. Vân-Đồn ai thắng danh vang?
98. Am mây ẩn dật chẳng màng lợi danh?
99. Mùa xuân nào phá quân Thanh?
100. Bao giờ trở lại thanh bình Việt Nam?



-------------------------------------------------------------------------------------------

 Chúng ta phải biết và chúng ta sẽ biết . 

 David Hilbert .

Thứ Bảy, 29 tháng 11, 2014

BẢN GIAO HƯỞNG SÔ 5 - Định mệnh - LUDWIG VAN BEETHOVEN

BẢN GIAO HƯỞNG SÔ 5 - Định mệnh - LUDWIG VAN BEETHOVEN

Portrait of Ludwig van Beethoven by Josef Karl Stieler

Bản Giao hưởng Số 5 cung Đô thứ Op. 67 "Định mệnh" được Beethoven sáng tác vào giai đoạn 1804-1808. Đây là một trong những bản giao hưởng âm nhạc cổ điển nổi tiếng nhất và phổ biến nhất, và thường được trình diễn tại các buổi hòa tấu. Bản giao hưởng gồm bốn chương (movement): chương mở đầu sonata, andante, chương scherzo tiết tấu nhanh dẫn đến chương cuối attacca. Nó được trình diễn lần đầu tiên tại nhà hát opera Theater an der Wien ở Viên năm 1808, ngay sau đấy bản giao hưởng đã trở lên nổi tiếng. E.T.A. Hoffmann miêu tả nó là "một trong những tác phẩm lớn của thời đại".












Tác phẩm mở đầu băng mô típ bốn nốt "ngăn-ngắn-ngắn-dài" lặp lại hai lần.
{\clef treble \key c \minor \time 2/4 {r8 g'8 [ g'8 g'8 ] | ees'2\fermata | r8 f'8 [ f'8 f'8 ] | d'2 (| d'2\fermata) | } }
( Trích :  Beet5mov1bars1to5.ogg )

Bản Giao hưởng và mô típ bốn nốt nhạc mở đầu này trở nên nổi tiếng trên thế giới và thường xuyên được sử dụng trong văn hoá đại chúng từ nhạc disco cho đến rock and roll và xuất hiện cả trong điện ảnh và truyền hình.

Lịch sử

Quá trình sáng tác

Bản giao hưởng Số 5 có một quá trình thai nghén lâu dài. Những phác thảo đầu tiên cho nó được Beethoven bắt tay vào thực hiện vào năm 1804 ngay sau khi ông hoàn thành Bản Giao hưởng số 3. Tuy nhiên, quá trình sáng tác tác phẩm này bị gián đoạn bởi việc chuẩn bị cho những tác phẩm khác như vở opera Fidelio, bản piano sonata Appassionata, ba bản Razumovsky cho tứ tấu bộ dây, Concerto cho Violin, bản Giao hưởng số 4 và Mass cung Đô trưởng. Mãi cho đến năm 1807 Beethoven mới có thể quay lại với việc sáng tác bản giao hưởng số 5 và hoàn thành vào năm 1808. Nó được thực hiện song song với bản giao hưởng số 6 và cả hai bản giao hưởng này được công diễn vào cùng một ngày.


Beethoven hoàn thành bản Giao hưởng Số 5 ở giữa những năm ba mươi tuổi khi cuộc sống của ông gặp nhiều rắc rối bởi căn bệnh điếc ngày càng trầm trọng. Bối cảnh lịch sử thế giới khi đó được đánh dấu bởi những cuộc chiến của Napoléon, bạo loạn chính trị ở Áo, và sự chiếm đóng kinh đô Viên của binh đoàn Napoléon vào năm 1805.






Ra mắt

nhà hát Theater an der Wien 


Bản Giao hưởng Số 5 được biểu diễn ra mắt vào ngày 22 tháng 12 năm 1808 trong một buổi hoà nhạc đồ sộ tại nhà hát Theater an der Wien do đích thân Beethoven chỉ huy. Buổi biểu diễn kéo dào hơn bốn giờ đồng hồ. Hai bản Giao hưởng được trình diễn theo thứ tự đảo ngược, bản số 6 trước rồi mới đến bản Số 5.







Chương trình của buổi biểu diễn như sau:
Giao hưởng số 6
Aria: "Ah, perfido", Op. 65
The Gloria các chương của Mass cung Đô trưởng
Concerto số 4 cho Piano (chơi bởi Beethoven)
(Giải lao)
Giao hưởng số 5
The Sanctus and Benedictus các chương của Mass cung Đô trưởng
Độc tấu ngẫu hứng của Beethoven
Đồng ca fantasia

Theater an der Wien như nó xuất hiện trong đầu thế kỷ 19
Beethoven dành tặng bản Giao hưởng Số 5 của ông cho hai người bảo trợ, Vương công Franz Joseph von Lobkowitz và Bá tước Razumovsky. Dòng đề tặng xuất hiện trên bản in nhạc phổ lần đầu tiên vào tháng 4 năm 1809.


Tiếp nhận và ảnh hưởng


Buổi biểu diễn ra mắt tác phẩm nhận được rất ít phản hồi do diễn ra trong điều kiện khó khăn. Trước đó, dàn nhạc giao hưởng chưa có thời gian luyện tập – chỉ tập được một buổi duy nhất – và khi một nhạc công mắc lỗi trong lúc biểu diễn Đồng ca Fantasia, Beethoven đã phải cho ngừng toàn bộ dàn nhạc và biểu diễn lại từ đầu. Khán phòng hôm đó cực kỳ lạnh và khán giả đã kiệt sức vì buổi biểu diễn quá dài. Tuy nhiên, một năm rưỡi sau đó, nhạc phổ của bản nhạc được xuất bản do tác động của một bài phê bình ca ngợi cuồng nhiệt do một tác giả ẩn danh viết (mà thực chất chính là E.T.A. Hoffmann) đăng trên tờ san Allgemeine musikalische Zeitung. Ông đã mô tả bản nhạc với những hình ảnh đầy kịch tính:
Ánh sánh rực rỡ chiếu xuyên qua màn đêm thăm thẳm, và lúc ấy ta mới nhận ra bóng tối khổng lồ đang lắc lư tới lui đã bao trùm lên ta, huỷ diệt mọi thứ bên trong ta chỉ trừ nỗi đau của niềm khắc khoải vô tận – cái khắc khoải mà trong đó mọi sự khoái lạc ngân lên trong cung bậc hân hoan đều bị dìm xuống và chết lịm, và chỉ qua nỗi đau ấy – cái thống trị nhưng không huỷ diệt tình yêu, hy vọng và niềm vui – ngực ta như muốn nổ tung bởi hơi thở dồn dập trong những hoà âm tràn ngập âm thanh của niềm đam mê, chúng ta bám lấy cuộc sống và trở thành người nắm giữ linh hồn.
Hoffman dành phần lớn nhất trong bài ngợi ca nồng nhiệt này để phân tích chi tiết bản giao hưởng, nhằm cho độc giả thấy được cách thức Beethoven sử dụng để nhấn mạnh những hiệu ứng đặc biệt đối với thính giả. Trong một bài luận mang tên "Nhạc không lời của Beethoven", kết hợp bài phê bình này cùng một bài viết khác vào năm 1813 về tác phẩm tam tấu đàn dây Op. 70, xuất bản trong ba số vào tháng 12 năm 1813, E.T.A. Hoffman ngợi ca thêm "bản giao hưởng cung Đô thứ kỳ diệu, sâu sắc không bút nào tả xiết."
Bản giao hưởng tuyệt diệu này, trong một cao trào cứ lên cao mãi, cao mãi, đã đưa đẩy thính giả rơi vào thế giới tâm linh của sự vô tận mới thật mãnh liệt!… Không nghi ngờ rằng toàn bộ làn sóng nhu động giống như một khúc Rhasody cuồng tưởng đã tinh tế đã đi qua bao người, nhưng tâm hồn của mỗi một thính giả am tường chắc chắn đã bị khuấy động một sâu sắc và mật thiết bởi cảm giác rằng không có một địa hạt tâm linh nào khác nơi nỗi buồn và niềm vui lại có thể ôm ấp lấy anh ta bằng những âm thanh…
Bản giao hưởng sớm đạt được vị trí như một tác phẩm trung tâm trong sự nghiệp của Beethoven. Như một biểu tượng của nhạc cổ điển, nó được chơi mở màn cho những buổi hoà nhạc của Dàn nhạc Giao hưởng New York vào ngày 7 tháng 12 năm 1842, và Dàn nhạc Giao Hưởng Quốc gia Mỹ ngày 2 tháng 11 năm 1931. Những yếu tố sáng tạo đột phá cả về kỹ thuật lẫn khả năng tác động tới cảm xúc của nó đã có sức ảnh hưởng sâu rộng tới các nhà soạn nhạc và giới phê bình âm nhạc, và là nguồn cảm hứng cho rất nhiều tác phẩm sau này của Brahms, Tchaikovsky (tiêu biểu là trong bản Giao hưởng số 4 của ông),  Bruckner, Mahler, và Hector Berlioz. Giao hưởng số 5 cùng với bản Giao hưởng số 3 (Anh hùng ca) và Giao hưởng số 9 (Thánh ca) trở thành những bản giao hưởng có tính cách mạng nhất của Beethoven.


Nhạc cụ

Bản Giao hưởng Số 5 được chơi bởi các nhạc cụ: piccolo (chỉ xuất hiện trong chương 4), 2 sáo, 2 oboe, 2 clarinet cung Si giáng và Đô, 2 bassoon, contrabassoon (chỉ xuất hiện trong chương 4), 2 kèn cor cung Mi giáng và Đô, 2 trumpet, 3 trombon (alto, tenor, và bass, chỉ xuất hiện trong chương 4), trống timpani (gam Son-Đô) và bộ vỹ.




Kết cấu

Một buổi biểu diễn kiểu mẫu thường kéo dài 30 phút. Tác phẩm chia làm bốn chương:

Chương 1: Allegro con brio

Chương đầu mở màn với mô típ 4 nốt đã đề cập ở trên, một trong những mô tip nổi tiếng nhất của âm nhạc phương Tây. Có khá nhiều tranh cãi giữa các nhạc trưởng về nhịp điệu để chơi bốn nốt mở màn này. Một số nhạc trưởng tuân thủ chặt chẽ theo nhịp allegro (nhịp nhanh khoảng 120-168 nhịp trên phút); một số khác nhằm nhấn mạnh sự nặng nề của tiếng gõ cửa định mệnh lại chơi bốn nốt mở đầu với nhịp điệu rất chậm và trang nghiêm; một số khác thì chơi theo nhịp molto ritardando (chơi mỗi nhịp bốn nốt chậm dần), cho rằng dấu lặng trên nốt thứ tư đóng vai trò cân bằng. Một số nhà phê bình nhấn mạnh điều quan trọng là phải thể hiện được tinh thần của nhịp hai-một và cho rằng nhịp một-hai-ba-bốn thường bị chơi sai.
( Nghe chương 1 :  Ludwig_van_Beethoven_-_symphony_no._5_in_c_minor,_op._67_-_i._allegro_con_brio.ogg )

Chương đầu được viết theo hình thức sonata truyền thống mà Beethoven thừa hưởng từ những nhà soạn nhạc cổ điển tiền bối Haydn và Mozart (trong đó ý tưởng chính được thể hiện ngay từ những trang đầu tiên và được tiếp tục đưa đẩy và phát triển lên qua rất nhiều nốt nhạc, với sự lặp lại kịch tính của đoạn mở đầu – dấu tóm tắt – ở quãng ba phần tư của toàn bộ chương). Nó bắt đầu với hai đoạn kịch tính cực mạnh, một mô tip nổi tiếng nhằm thu hút sự chú ý của thính giả. Tiếp theo bốn nhịp đầu Beethoven sử dụng biện pháp lặp và tiếp nối để phát triển chủ đề. Bốn nốt lặp lại ngắn gọn như xô đầy lên nhau với nhịp độ đều đặn tạo lên một giai điệu đơn nhất liên tục trôi chảy. Ngay sau đó, một đoạn nối được chơi bằng kèn cor với âm hưởng nhanh mạnh thế chỗ trước khi chủ đề thứ hai được giới thiệu. Chủ đề thứ hai này được chơi ở cung Mi giáng, giọng trưởng tương đương, và nó trữ tình hơn, được viết cho piano và với bốn nốt mô típ được chơi phụ hoạ bởi bộ vỹ. Phần tái hiện một lần nữa lại dựa trên bốn nốt mô típ. Sự phát triển của phân đoạn tiếp tục sử dụng biện pháp chuyển giọng, tiếp nối và lặp lại và đoạn nối. Trong đoạn lặp lại này, có một phần độc tấu ngắn dành cho oboe theo phong cách gần như ngẫu hứng, và toàn bộ chương đầu kết thúc với coda (đoạn kết của một chương nhạc) mãnh liệt.

Chương hai: Adante con moto

Chương hai chơi ở cung La trưởng mang đậm tính trữ tình với hình thức chủ đề kép biến tấu, tức là hai chủ đề cùng xuất hiện và biến đổi luân phiên nhau. Tiếp theo những đoạn biến tấu là một phần coda dài.
Chương này mở đầu với sự lên tiếng của chủ đề thứ nhất, một giai điều được đồng tấu bằng viola và cello với double bass phụ hoạ. Chủ đề thứ hai ngay lập tức theo sau bằng hoà âm tạo ra bởi clarinet, basson, violin, với giải âm ba nốt cho viola và bass. Ở đoạn biến tấu tiếp theo chủ để thứ nhất lại xuất hiện và tiếp nối nó là chủ để thứ ba, 32 nốt chơi bằng viola và cello với một đoạn đối chọi chơi bởi sáo, oboe và basson. Tiếp theo một khúc chuyển tiếp toàn bộ dàn nhạc cùng hoà tấu với nhịp điệu cực mạnh, dẫn tới một đoạn cao trào mạnh dần, và đoạn coda để kết thúc chương.
( Nghe chương 2 : Ludwig_van_Beethoven_-_symphony_no._5_in_c_minor,_op._67_-_ii._andante_con_moto.ogg )


Chương ba: Scherzo. Allegro

Chương ba có cấu trúc ba lớp, bao gồm scherzo và trio được viết theo khuôn mẫu của chương ba trong nhạc giao hưởng thời kỳ Cổ điển, trong đó đoạn scherzo chính được chơi liên hoàn, rồi đến một phần trio đối lập, và đoạn scherzo sẽ lặp lại, và đến coda kết thúc. Tuy nhiên trong khi nhạc giao hưởng thời kỳ Cổ điển thông thường sử dụng minuet và trio cho chương ba thì Beethoven lại có sự cách tân bằng cách sử dụng cấu trúc scherzo và trio.
Chương ba này lại quay lại chơi ở cung Đô thứ ở đoạn mở đầu và bắt đầu với chủ đề được chơi bằng cello và double bass
\relative c{ \clef bass \key c \minor \time 3/4 \partial 4 g\pp \mark "Allegro" c ees g c2 ees4 d2 fis,4 g2.}
( Trích :  Beet5mov3bars1to4.ogg )

Chủ đề mở màn được đáp lại bằng một chủ để tương phản chơi bằng nhạc cụ bộ hơi, và đoạn này được lặp lại. Sau đó kèn cor lên tiếng mạnh mẽ để tuyên bố chủ để chính của chương và phần nhạc phát triển từ đây.
Phần trio chơi ở cung Đô trưởng và được viết theo lối đối âm. Khi đoạn scherzo trở lại lần cuối cùng, nó được chơi bằng bộ dây hết sức nhẹ nhàng với kỹ thuật pizzicato.
"Phần scherzo tạo sự đối lập tương tự như những giai điệu chậm trong đó chúng phát triển từ những đặc điểm cực kỳ khác biệt giữa scherzo và trio… Scherzo đối lập hình ảnh này với mô tip (3+1) nổi tiếng của chương đầu, cái có tính quyết định xuyên suốt toàn bộ chương."
( Nghe chương 3 : Ludwig_van_Beethoven_-_symphony_no._5_in_c_minor,_op._67_-_iii._allegro.ogg )


Chương 4: Allegro


Âm điệu hân hoan và hồ hởi của chương kết ngay lập tức theo sau scherzo mà không hề bị ngắt quãng. Nó được viết theo hính thức sonata biến thể khác lạ: ở phần cuối của đoạn phát triển chủ đề, các nhạc cụ tạm ngưng ở phách át, chơi cực mạnh, và âm nhạc được tiếp tục chơi sau đoạn ngừng với điệp khúc nhẹ nhàng của "chủ đề kèn cor" trong điệu scherzo. Phần tóm tắt sau đó được giới thiệu bằng nhịp điệu mạnh dần phát ra từ những nhịp cuối cùng của phần scherzo thêm vào, giống hệt nhạc của phần mở đầu chương. Đưa phần tạm ngưng vào chương cuối với chất liệu từ ‘vũ điệu’ thứ ba này lần đầu tiên được Haydn sử dụng trong tác phẩm Giao hưởng số 46 cung Si của ông vào năm 1772. Không ai biết liệu có phải Beethoven học tập từ tác phần này hay không.
Chương cuối Bản giao hưởng Số 5 kết thúc bằng một coda rất dài, trong đó những chủ đề chính của chương được chơi theo hình thức cô đọng về nhịp điệu. Càng tới cuối nhịp điệu chuyển dần về presto (rất nhanh). Bản giao hưởng kết thúc bằng 29 nhịp ở hợp âm Đô trưởng, chơi cực mạnh. Charles Rosen trong The Classical Style cho rằng kết thúc này thể hiện cảm nhận Beethoven về tính tương quan trong nhạc thời kỳ Cổ điển: đoạn "kết dài đến khó tin" hoàn toàn ở cung đô trưởng là cần thiết "để kết lại sự căng thẳng tột độ của tác phầm đồ sộ này."
( Nghe chương 4 : Ludwig_van_Beethoven_-_symphony_no._5_in_c_minor,_op._67_-_iv._allegro.ogg )


Ảnh hưởng

Nhà nghiên cứu âm nhạc thế kỷ 19, Gustav Nottebohm lần đầu tiên chỉ ra rằng chủ đề trong chương ba của tác phầm này có chung chuỗi các quãng như phần mở đầu của chương cuối của bản Giao hưởng số 40 cung Son thứ K.550 của Mozart. Đây là phần mở đầu của Mozart:
MozartSymph40Mvt4Opening.png
( Trích : Mozart40bars1to3.ogg  )

Trong khi sự giống nhau ngẫu nghiên đôi cũng khi xảy ra trong âm nhạc, trường hợp của Beethoven có vẻ không phải do tình cờ. Nottebohn khám phá ra sự tương đồng này khi xem xét bản nháp mà Beethoven sử dụng để soạn thảo Bản giao hưởng Số 5 và thấy rằng 29 nhịp hợp âm kết thúc của Mozart được Beethoven sao chép lại.

Nguồn  :  http://vi.wikipedia.org/wiki/Giao_huong_so_5_Beethoven
http://en.wikipedia.org/wiki/Symphony_No._5_(Beethoven)

Xem thêm
http://www.all-about-beethoven.com/symphony5.html
http://www.theguardian.com/music/tomserviceblog/2013/sep/16/symphony-guide-beethoven-fifth-tom-service






 -------------------------------------------------------------------------------------------

 Chúng ta phải biết và chúng ta sẽ biết .

 David Hilbert .

Thứ Tư, 26 tháng 11, 2014

Hiểu vật lý trong 60 giây - Bài 10 . Sự vi phạm CP

Hiểu vật lý trong 60 giây - Bài 10 .  Sự vi phạm CP



Lời nói đầu .


Tạp chí Symmetry trình bày rất nhiều lĩnh vực khác nhau trong Vật lý hiện đại với những ý tưởng , bài viết , công trình lý thuyết lẫn thực nghiệm của tập thể các nhà khoa học hàng đầu hiện nay trên thế giới . Chuyên mục " Hiểu biết Vật lý trong 60 giây " tổng hợp một số bài viết ngắn gọn , súc tích và đầy tính đột phá trong việc giải thích các cơ chế vật lý nhằm giúp người đọc dễ dàng tiếp cận những thông tin mới mẻ . Tác giả của những bài viết này hiện đang công tác tại các Trung tâm nghiên cứu , Viện Khoa học và các trường Đại học danh tiếng nên nguồn thông tin luôn được cập nhật thường xuyên .
 Xin trân trọng giới thiệu đến bạn đọc .




Trần hồng Cơ .
Tham khảo - Trích lược .
Ngày 05/05/2014.


 ------------------------------------------------------------------------------------------- 


Sự vi phạm CP  

CP violation

Minh họa: Sandbox Studio


Phải chăng các quy luật tự nhiên đều giống nhau cho vật chất và phản vật chất? Các nhà vật lý hay sử dụng thuật ngữ "CP" (cho "đối đẳng tích liên hợp - charge parity") để nói về tính đối xứng vật chất-phản vật chất. Nếu tự nhiên đối xử vật chất và phản vật chất như nhau, thì nói theo phong -cách -vật - lý, tự nhiên cũng sẽ là CP-đối xứng. Nếu không,  tính CP  sẽ bị vi phạm.

Thế nhưng các thí nghiệm đã chỉ ra rằng lực yếu trong tự nhiên - tác nhân về sự phân hủy của các hạt -  trong thực tế là vi phạm CP. Tuy nhiên, sự vi phạm CP đặt ra một sự bí ẩn.


 Bí ẩn từ đâu đến ?

Trong những thí nghiệm tại Alternating Gradient Synchrotron tại Phòng thí nghiệm quốc gia Brookhaven khoa Năng lượng của các nhà vật lý Jim Cronin và Val Fitch phát hiện vào năm 1964 rằng vật chất và phản vật chất không luôn luôn ứng xử một cách đối xứng CP , như các nhà khoa học đã tin như vậy . Thay vào đó, Cronin và Fitch tìm thấy một chút khác biệt trong hành vi của các hạt hạ nguyên tử được gọi là kaon, và phản hạt của chúng, antikaons. Sự khác biệt này tuy nhỏ nhưng rất quan trọng, được gọi là sự vi phạm CP, giữa ứng xử của vật chất và phản vật chất, có thể giải thích cho sự tồn tại của vũ trụ đối xứng của chúng ta , đã được hình thành chỉ từ vật chất .



Các mô hình chuẩn của hạt cơ bản cho thấy rằng khi vũ trụ nhỏ hơn $10 ^{-12}$ giây , là điều kiện đã chín muồi cho việc sản sinh vật chất nhiều hơn phản vật chất với sự vi phạm CP nhằm cung cấp cơ chế cho tốc độ phản ứng khác nhau (để sản sinh vật chất và phản vật chất). Lời giải thích này có vẻ hợp lý , tuy nhiên, các tính toán lý thuyết cũng như đo lường thực nghiệm cho thấy có một sự dư thừa rất nhỏ để đạt được mức độ có thể quan sát được của tính đối xứng CP   .

CP là gì ?

Để hiểu sơ lược về đối xứng CP ta có thể vắn tắt như sau
-Đối xứng CP là một sự kết hợp của tính đối xứng C và P , mà trước đó đã được cho là đối xứng tuyệt đối trong tự nhiên .
-Tình P-đối xứng là đối xứng bình đẳng ( đối đẳng ) : nó biến đổi và bảo toàn tất cả mọi thứ vào hình ảnh phản chiếu của nó .
-Tính C-đối xứng là đối xứng tích liên hợp ( tích liên hợp )  : nó biến đổi một hạt thành phản hạt của nó hoặc ngược lại.
Tích liên hợp (C) là một phép toán biến đổi một hạt thành một phản hạt, ví dụ, thay đổi các dấu của điện tích . Tích liên hợp (C)  ngụ ý rằng tất cả các hạt tích điện đều có một phản vật chất tích điện trái dấu, hoặc phản hạt.

Tính bảo toàn P-đối xứng có nghĩa là bên trái - bên phải và bên trên - bên dưới phải được bảo toàn khi đối xứng qua một gương phản chiếu .

Khi đó đối xứng CP - đối đẳng tích liên hợp - thỏa mãn cả hai tính đối xứng C và P , sẽ có thể được mô tả như sau

Hình ảnh minh họa dưới đây cho chúng ta thấy tính đối xứng CP của hạt neutrino



Vi phạm CP là gì ?

Trong một thời gian dài, đối xứng CP  đã được giả định là tự nhiên luôn luôn đúng. Nó có vẻ rất tự nhiên khi cho các hạt và phản hạt chia sẻ cùng một hiện tượng vật lý, và cả các định luật vật lý để duy trì tính giống nhau ngay cả khi có sự phản ảnh . Tuy nhiên, các nghiên cứu về neutrino đã làm tan vỡ niềm tin này.
Sự vi phạm CP là vi phạm định luật bảo toàn kết hợp gắn liền với tính đối xứng tích liên hợp (C) và tính đối xứng bình đẳng (P). Sự vi phạm CP có thể được hiểu là :
+ Vi phạm tính P-đối xứng



+ Vi phạm tính C-đối xứng



Vi phạm CP đã được phát hiện đầu tiên trong các mô hình phân rã của kaon , một nhóm cụ thể của các hạt phức hợp -composit .
Hai trong số các quỹ  đạo phân rã của các kaon K-dài là đặc biệt nổi bật . Các sản phẩm của hai sự phân rã là phiên bản hoàn toàn đối xứng CP của nhau. Ví dụ, một phản-neutrino electron ra và một neutrino electron, và tất cả các hạt tương ứng khác của hai phân rã cũng là hoàn toàn đối xứng CP.

Mặc dù các sản phẩm của hai phân rã là CP-đối xứng, nhưng chúng không được sản xuất ở mức tương đương. Nếu đối xứng CP là hoàn toàn đúng, thì các kaon K-dài sẽ phân hủy thông qua hai quỹ đạo với một lượng bằng nhau . Tuy nhiên, trong các thí nghiệm, các K-dài lại có nhiều khả năng phân hủy theo qũy đạo bao gồm liên quan đến các neutrino electron bằng một phần rất nhỏ. Sự khác biệt phân đoạn này thể hiện sự vi phạm CP rõ ràng và do đó cung cấp các bằng chứng không thể phủ nhận rằng vật lý không phân biệt giữa vật chất và phản vật chất .

***


Lại nói về BigBang .

Vụ nổ lớn BigBang đã tạo ra một lượng bằng nhau của vật chất và phản vật chất, nhưng với sự hủy diệt tiếp theo sau đó để lại những cái không phải như vậy . Tuy nhiên, vũ trụ khả kiến có khoảng mười tỷ thiên hà bao gồm toàn bộ các vật chất (proton, nơtron và electron) mà lại không có phản vật chất (phản- proton, phản-neutrons, và positron). Ngay sau khi vụ nổ lớn, một số lực nào đó đã phải  gây ra sự vi phạm CP để làm lệch đi sự bình đẳng giữa vật chất và phản vật chất hạt và bỏ lại đằng sau toàn là vật chất dư thừa .

Các lực yếu bởi bản thân nó chỉ có thể giải thích một lượng nhỏ về sự vi phạm CP, không đủ để lại vật chất cho cả một thiên hà . Một số lực ẩn khác - đã không xét đến trong Mô hình Chuẩn của chúng ta về các hạt và các lực - chắc chắn đã phải chịu trách nhiệm cho sự vi phạm CP bổ sung để dẫn tới vũ trụ chúng ta quan sát ngày nay . Những thí nghiệm trong máy gia tốc hạt hiện tại và tương lai được thiết kế nhằm tìm kiếm các nguồn vi phạm CP đủ lớn để có thể xem xét tất cả vũ trụ vật chất xung quanh chúng ta.




01/10/2005
Theo Yosef Nir, Viện Khoa học Weizmann, Israel

 +++++++++++++++++++++++++++

Nguồn :
1. http://www.symmetrymagazine.org/article/october-2005/explain-it-in-60-seconds
2. https://www.fnal.gov/pub/science/inquiring/timeline/17.html
3. https://www.fnal.gov/pub/science/
4. http://universe-review.ca/R02-14-CPviolation.htm
5. http://www.quantumdiaries.org/2011/11/14/what-exactly-is-cp-violation/
6. http://www.nevis.columbia.edu/daedalus/motiv/cp.html



Trần hồng Cơ
Tham khảo - Trích lược .
Ngày 25/11/2014 .



 ------------------------------------------------------------------------------------------- 

 Chúng ta phải biết và chúng ta sẽ biết . 

 David Hilbert .

Thứ Ba, 25 tháng 11, 2014

Hiểu vật lý trong 60 giây - Bài 9 . Chất siêu dẫn

Hiểu vật lý trong 60 giây - Bài 9 . Chất siêu dẫn



Lời nói đầu .


Tạp chí Symmetry trình bày rất nhiều lĩnh vực khác nhau trong Vật lý hiện đại với những ý tưởng , bài viết , công trình lý thuyết lẫn thực nghiệm của tập thể các nhà khoa học hàng đầu hiện nay trên thế giới . Chuyên mục " Hiểu biết Vật lý trong 60 giây " tổng hợp một số bài viết ngắn gọn , súc tích và đầy tính đột phá trong việc giải thích các cơ chế vật lý nhằm giúp người đọc dễ dàng tiếp cận những thông tin mới mẻ . Tác giả của những bài viết này hiện đang công tác tại các Trung tâm nghiên cứu , Viện Khoa học và các trường Đại học danh tiếng nên nguồn thông tin luôn được cập nhật thường xuyên .
 Xin trân trọng giới thiệu đến bạn đọc .




Trần hồng Cơ .
Tham khảo - Trích lược .
Ngày 05/05/2014.


 ------------------------------------------------------------------------------------------- 


Chất siêu dẫn 

superconductors


Minh họa: Sandbox Studio



Chất siêu dẫn là vật liệu dẫn không có trở kháng với dòng điện. . Ở nhiệt độ rất thấp, ứng xử lượng tử của chúng cho phép các electron ghép với nhau một cách nào đó để tránh những trở ngại gây kháng bình thường trong chuyển động của chúng.
Các chất siêu dẫn đầu tiên được phát hiện vào năm 1911 khi Heike Kamerlingh Onnes làm mát bằng thủy ngân xuống tới 4 độ Kelvin (-452F, -269C), nhiệt độ của chất lỏng heli. Sau đó John Bardeen, Leon Cooper và John Schrieffer phát triển một lý thuyết về phương thức hoạt động của chất siêu dẫn. Được mệnh danh là "BCS Theory" lấy từ tên cuối cùng của các nhà khoa học, lý thuyết này mô tả tính chất siêu dẫn cho các nguyên tố và các hợp kim đơn giản ở nhiệt độ gần không độ tuyệt đối (0 Kelvin, -459.67F, -273.15C); Tuy nhiên, lý thuyết BCS không hoàn toàn giải thích được phương thức hoạt động của các chất siêu dẫn ở nhiệt độ cao hơn và chất liệu phức tạp hơn. Một lý thuyết tất cả bao gồm như vậy vẫn còn vượt quá tầm hiểu biết khoa học hiện đại và điều này là một trọng tâm chính của nhánh nghiên cứu vật lý hiện nay. Siêu dẫn sọc hoặc "Superstripes" đang dẫn đầu trong việc nghiên cứu tính chất siêu dẫn nhiệt độ cao.

Hình ảnh ảo giác trên là một bản tóm tắt đồ họa của một lý thuyết mô tả các chất siêu dẫn sọc.
Image courtesy of Florian Loder, University of Augsburg (2011)

Trong dây dẫn bình thường, dao động nhiệt và các tạp chất làm chệch hướng, hoặc phân tán, các electron . Quá trình này thải năng lượng bằng cách tạo ra nhiệt , ví dụ , trong cáp nhôm thép gia cố của đường dây truyền tải điện trong lưới điện. Ngay cả dây dẫn rất tốt như đồng nguyên chất cũng cản trở đáng kể dòng chảy của các electron , sinh ra  trở kháng và làm nóng dây.

Hệ thống truyền tải điện 
Thông thường, hai electron tích âm đẩy nhau. Nhưng trong chất siêu dẫn, các electron lại ứng xử khác nhau. Hai electron có thể tạo thành một cặp tạm thời khi một electron được hút vào lõi dương của một nguyên tử ngay khi một electron khác lại bị thu hút bởi các nguyên tử tương tự . Đáng ngạc nhiên là sự kết hợp này giúp loại bỏ những ảnh hưởng của sự tán xạ electron. Với việc xuất hiện hàng tỷ lần trong một giây, hiện tượng "cặp đôi" này làm cho sức đề kháng biến mất : do đó điện không ma sát!

Cáp siêu dẫn .

Là loại cáp ngầm làm bằng chất siêu dẫn, có tính mất trở kháng đối với dòng điện ở nhiệt độ thấp. Cáp siêu dẫn được làm bằng dây dẫn thế hệ thứ hai phủ đồng đồng dựa trên họ các chất siêu dẫn được phát hiện vào năm 1986 và hiện đang được lắp đặt cho lưới điện . Vì các chất siêu dẫn truyền điện mà không sinh nhiệt, chúng có thể mang điện với hiệu suất gấp nhiều lần so với dây cáp đồng thông thường với cùng một diện tích mặt cắt .
Cáp siêu dẫn (bên phải )  so với cáp đồng ( bên trái ) - Courtesy, American Superconductor Corporation


02 tháng 7 2008 - American Superconductor chính thức đưa vào hoạt động hệ thống cáp điện truyền tải nhiệt độ cao siêu dẫn đầu tiên trên thế giới được sử dụng trong một lưới điện thương mại. Chất siêu dẫn có thể cung cấp nhiều năng lượng một cách nhanh chóng, hiệu quả, và kín đáo. Việc truyền tải điện có hiệu suất gấp 150 lần điện của dây đồng có kích thước tương tự. Tuy nhiên, do khó khăn về công nghệ, sự phát triển thương mại của hệ thống siêu dẫn trong cáp điện đã bị khai triển khá chậm.


Chất siêu dẫn rất quan trọng trong khoa học, y học, và ngành công nghiệp. Dây siêu dẫn được sử dụng trong các nam châm cho máy gia tốc như Large Hadron Collider, và trong  máy chụp hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) tại các bệnh viện. Các dây cáp siêu dẫn đầu tiên cho đường dây tải điện ngầm cũng đang được cài đặt tương đối phổ biến .








01/09/2005
Theo David Larbalestier, Applied Superconductivity Center and Department of Materials Science and Engineering, University of Wisconsin-Madison

 +++++++++++++++++++++++++++

Nguồn :
1. http://www.symmetrymagazine.org/article/september-2005/explain-it-in-60-seconds
2. http://www.physicscentral.com/explore/pictures/superconductors.cfm
3. http://www.newscientist.com/special/instant-expert-superconductors
4. http://spectrum.ieee.org/energy/the-smarter-grid/superconductors-enter-commercial-utility-service
5. http://cnx.org/contents/1741effd-9cda-4b2b-a91e-003e6f587263@43.2:44/Sustainability:_A_Comprehensiv



Trần hồng Cơ
Tham khảo - Trích lược .
Ngày 25/11/2014 .



 ------------------------------------------------------------------------------------------- 

 Chúng ta phải biết và chúng ta sẽ biết . 

 David Hilbert .


Thứ Bảy, 22 tháng 11, 2014

CÁC CÔNG THỨC PHỔ THÔNG . Phần 6 .





CÁC CÔNG THỨC PHỔ THÔNG .

Phần 6 .


131. ĐỊNH LUẬT TẢN NHIỆT NEWTON .
Newton Cooling Experiment



132. TÍN HIỆU NGẪU NHIÊN VÀ HIỆU THẾ ỒN (RMS) .




 133. ĐỘ NHẠY TỪ .

Độ nhạy từ
Trong điện, tính nhạy cảm từ (Latin: susceptibilis "tiếp thu") là hằng số tỉ lệ không thứ nguyên chỉ ra mức độ từ hóa của một loại vật liệu đáp ứng với một từ trường ngoài.


134. TỐC ĐỘ PHAY VÀ ĐỊNH MỨC VẬT LIỆU .

Milling Speed and Feed Calculator



135. TỶ LỆ LƯU LƯỢNG KHỐI .


Nguồn :  http://www.engineersedge.com/fluid_flow/mass_flow_rate.htm



136. VẬN TỐC TRÔI .

Vận tốc trôi là vận tốc trung bình mà một hạt, chẳng hạn như electron, đạt được do tác động của một điện trường. Nó cũng có thể được gọi là vận tốc trôi hướng trục . Nói chung, một electron sẽ 'khua tròn' ngẫu nhiên trong một dây dẫn ở  vận tốc Fermi .




137. HẰNG SỐ TỶ LỆ K CỦA LÒ XO XOẮN .




138. TÍNH TOÁN SỐ LIỆU CỦA LÒ XO XOẮN .

Xem thêm   http://www.calculatoredge.com/mech/hspring.htm#index

139. ĐỘ DÃN THEO TRỤC CỦA LÒ XO XOẮN .





140. HỆ SỐ D-MŨ .

Hệ số D mũ là giả thiết về các thông số khoan để có được áp lực khi khoan vào trong vùng chịu áp lực .
Các hệ số D được sử dụng trong khai thác bùn và phân tích áp lực hình thành lỗ rỗng trong ngành công nghiệp dầu mỏ, là phép tính ngoại suy các thông số khoan nào đó để ước tính một gradient áp suất để đánh giá áp lực lỗ rỗng trong khi khoan. Thông thường điều này được thực hiện trong miền chịu áp lực . Nó được coi là một trong những công cụ tốt nhất để đánh giá áp lực lỗ rỗng.  Các thông số được sử dụng để tính toán các giá trị  D-mũ là: tốc độ khoan (ROP), tốc độ quay, trọng lượng mẫu , đường kính mẫu và trọng lượng bùn ; và đồ thị dựa vào độ khoan sâu .




141. ĐỘ UỐN KHẢ DĨ .





142. THẾ NĂNG HẤP DẪN .


Trong cơ học cổ điển , thế năng hấp dẫn tại một địa điểm bằng với công ( năng lượng được chuyển giao) trên mỗi khối lượng đơn vị - được thực hiện bởi lực hấp dẫn để di chuyển một đối tượng đến vị trí tham chiếu cố định . Nó tương tự với điện thế với khối lượng thay cho vai trò của điện tích . Vị trí tham chiếu, nơi thế năng bằng không, do quy ước là xa vô cùng từ mọi khối lượng khảo sát bất kỳ , sẽ có kết quả là một thế năng âm tại mọi khoảng cách hữu hạn .

Trong toán học thế năng hấp dẫn cũng được biết đến như là thế  Newton và là cơ sở trong việc nghiên cứu lý thuyết thế vị .




143. DAO ĐỘNG ĐIỀU HÒA TẮT DẦN .
OVER-DAMPING
CRITICAL-DAMPING
UNDER-DAMPING




144. DAO ĐỘNG ĐIỀU HÒA CƯỠNG BỨC .






145. DAO ĐỘNG ĐIỀU HÒA MỘT CHIỀU TRONG CƠ LƯỢNG TỬ .


Một số quỹ đạo của một dao động điều hòa theo định luật của Newton trong cơ học cổ điển (A-B), và theo các phương trình Schrödinger của cơ học lượng tử (C-H). Trong (A-B) , các hạt (đại diện là một quả bóng gắn liền với một lò xo ) dao động tới lui. Các đồ thị (C-H) , là một số nghiệm của phương trình Schrödinger được hiển thị, trong đó trục ngang là vị trí, và trục thẳng đứng là phần thực (màu xanh) hoặc một phần ảo (màu đỏ) của hàm sóng . Các đồ thị C, D, E, F, ( nhưng không gồm G, H ) là trạng thái năng lượng  riêng . H là một trạng thái thống nhất -một trạng thái lượng tử  xấp xỉ quỹ đạo cổ điển.



146. ĐỘ ỒN VÀ KHOẢNG CÁCH .



147. SỨC BỀN NGANG .



148. HIỆU ỨNG DOPPLER - TẦN SỐ HIỆU CHỈNH RADAR  .



149. TỐC ĐỘ MOTOR  .




150. ĐỘNG LƯỢNG .





---------------------------------------------------------------------------------------



Nguồn  http://engineering-students.com/

http://www.calculateme.com/index.htm


http://easycalculation.com/physics/classical-physics/classical-physics.php


Xem thêm

Các công thức phổ thông . Phần 1 .
Các công thức phổ thông . Phần 2 .
Các công thức phổ thông . Phần 3 .
Các công thức phổ thông . Phần 4 .
Các công thức phổ thông . Phần 5 .
Các công thức phổ thông . Phần 6 .



Trần hồng Cơ 
Biên soạn - Trích lược .
Ngày 22/11/2014 .





-------------------------------------------------------------------------------------------

 Chúng ta phải biết và chúng ta sẽ biết . David Hilbert .

*******

Blog Toán Cơ trích đăng các thông tin khoa học tự nhiên của tác giả và nhiều nguồn tham khảo trên Internet .
Blog cũng là nơi chia sẻ các suy nghĩ , ý tưởng về nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau .


Chia xẻ

Bài viết được xem nhiều trong tuần

CÁC BÀI VIẾT MỚI VỀ CHỦ ĐỀ TOÁN HỌC

Danh sách Blog

Thông tin hàng ngày.

Giới thiệu bản thân

Ảnh của Tôi


Các chuyên đề ứng dụng .

1. Phương trình vi phân  
2. Toán đơn giản - College Algebra 
3. Toán thực hành - Practical Mathematics 
4. Vật lý tổng quan ( đang viết )
5. Phương trình tích phân 
( đang chuẩn bị ) 

Gặp Cơ tại Researchgate.net

Co Tran