Wikipedia

Kết quả tìm kiếm

Giải toán trực tuyến W | A




Vẽ đồ thị trong Oxyz plot3D(f(x,y),x=..,y=..)
Vẽ đồ thị trong Oxy plot(f(x),x=..,y=..)
Đạo hàm derivative(f(x))
Tích phân Integrate(f(x))


Giải toán trực tuyến W|A

Thứ Ba, 28 tháng 7, 2015

GIẢI TOÁN PHỔ THÔNG BẰNG CÁC CÔNG CỤ TRỰC TUYẾN . Phần 9a . HÌNH HỌC - Đường cong 2D - Conics - Parabola


GIẢI TOÁN PHỔ THÔNG BẰNG CÁC CÔNG CỤ TRỰC TUYẾN .

Phần 9a . HÌNH HỌC - Đường cong 2D - Conics -  Parabola 


DANH MỤC CÔNG CỤ GIẢI TOÁN TRỰC TUYẾN  MATHEMATICA  WOLFRAM | ALPHA .

Giới thiệu .

Bạn đọc truy cập vào đường dẫn  http://cohtrantmed.yolasite.com/widgets-tructuyen  để sử dụng các widgets giải toán trực tuyến W|A Mathematica theo chỉ mục trong danh sách dưới đây .

Những widgets này đã được tác giả sắp xếp theo từng môn học và cấp lớp theo ký hiệu như sau :

D : Đại số . Ví dụ  D8.1 widget dùng cho Đại số lớp 8 , mục 1 - Khai triển , rút gọn biểu thức đại số .
H : Hình học . Ví dụ  H12.3  widget dùng cho Hình học lớp 12 , mục 3 - Viết phương trình tham số của đường thẳng trong không gian .
G : Giải tích . Ví dụ : G11.7  widget dùng cho Giải tích lớp 11 , mục 7 - Tính đạo hàm cấp cao của hàm số
GI : Giải tích cao cấp I . Ví dụ GI.15  widget dùng cho Giải tích cao cấp I , mục 15 - Khai triển hàm số bằng đa thức TAYLOR
GII : Giải tích cao cấp II .


++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++


 ĐẠI SỐ 8

D8.1  Khai triển , rút gọn biểu thức đại số
D8.2  Rút gọn phân thức
D8.3  Phân tích thừa số
D8.4  Nhân 2 đa thức
D8.5  Khai triển tích số ( có thể dùng để khai triển Newton )
D8.6  Phân tích thừa số

++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

ĐẠI SỐ 10

D10.1 Giải phương trình nguyên Diophante
D10.2 Giải phương trình tuyệt đối
D10.3 Giải phương trình chứa tham số
D10.4  Giải phương trình đại số
D10.5  Giải phương trình từng bước
D10.6  Giải bất phương trình minh hoạ bằng đồ thị

D10.8  Tính giá trị biểu thức hàm số
D10.9  Giải bất phương trình đại số và minh hoạ bằng đồ thị
D10.10  Giải bất phương trình đại số - tìm miền nghiệm
D10.11  Giải phương trình đại số
D10.12  Giải phương trình vô tỷ
D10.13  Giải phương trình minh hoạ từng bước
D10.14  Giải phương trình dạng hàm ẩn
D10.15  Giải hệ thống phương trình tuyến tính , phi tuyến
D10.16  Giải hệ phương trình
D10.17  Vẽ miền nghiệm của bất phương trình đại số
D10.19  Tối ưu hoá hàm 2 biến với các ràng buộc
D10.20  Tìm giao điểm của đồ thị hàm số và trục hoành Ox , trục tung Oy

HÌNH HỌC 10

H10.1  Tính diện tích tam giác trong hệ toạ độ Oxy
H10.3  Khảo sát conic ( đường tròn , Ellipse , Parabola , Hyperbola )
H10.2  Tính khoảng cách từ 1 điểm đến đường thẳng trong Oxy



++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

ĐẠI SỐ 11

D11.1 Thuật chia Euclide dùng cho số và đa thức  ( HORNER )
D11.2  Tính tổng nghịch đảo của n số tự nhiên




D11.6  Khai triển nhị thức Newton


GIẢI TÍCH 11


G11.1  Tính gíá trị một chuỗi số  theo n
G11.2  Đa thức truy hồi
G11.3  Khảo sát tính hội tụ của chuỗi số
G11.4  Tính giới hạn của chuỗi số khi  $n \rightarrow  \infty$
G11.5  Tìm hàm số ngược của hàm số cho trước
G11.6  Tìm đạo hàm của hàm số hợp - giải thích
G11.7   Tính đạo hàm cấp cao của hàm số
G11.8   Tìm giới hạn của hàm số
G11.9   Tìm giới hạn của hàm số
G11.10  Tính đạo hàm hàm số có dạng U/V
G11.11  Tìm đạo hàm của hàm số cho trước
G11.12  Tìm đạo hàm của hàm số cho trước

G11+12.1   Tính đạo hàm ,tích phân , giới hạn , vẽ đồ thị


LƯỢNG GIÁC 11

L11.1   Giải phương trình lượng giác
L11.2   Giải phương trình lượng giác trên một đoạn
L11.3   Tìm chu kỳ của hàm số tuần hoàn
L11.4   Khai triển công thức lượng giác



++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

ĐẠI SỐ 12

D12.1   Cấu trúc của số phức
D12.1   Giải phương trình mũ
D12.3   Giải  phương trình chứa tham số
D12.4   Giải  phương trình  bất kỳ  ( Bậc 2 , 3 , ... , mũ  , log , căn thức )
D12.5   Giải phương trình mũ



GIẢI TÍCH 12


G12.1  Vẽ đồ thị biểu diễn phương trình
G12.2    Khảo sát hàm số hữu tỷ
G12.3   Vẽ đồ thị trong toạ độ cực (Polar)
G12.4    Tìm cực trị của hàm số
G12.5    Vẽ đồ thị hàm số 2D
G12.6   Tìm đạo hàm cấp 2 của hàm số
G12.7    Vẽ nhiều hàm số - Basic plot. To plot two or more functions, enter {f1(x), f2(x),...}
G12.8    Tìm điểm uốn của hàm số cho trước
G12.9    Tìm nghiệm của các phương trình  y = 0 , y ' = 0 ,  y " = 0
G12.10    Tính tích phân bất định
G12.11    Tính tích phân bất định minh hoạ từng bước
G12.12   Tính tích phân bất định minh hoạ từng bước
G12.13   Tìm đường tiệm cận của hàm số
G12.14   Tính diện tích hình phẳng giới hạn bởi 2 đường cong (C1) , (C2)
G12.15  Tìm giao điểm của hàm số đa thức và trục hoành Ox - Vẽ đồ thị .
G12.16    Tính thể tích vật thể tròn xoay giới hạn bởi (C1) , (C2)
G12.17    Vẽ đồ thị hàm số ( có đường tiệm cận )
G12.18   Vẽ đồ thị 2D , 3D
G12.19   Tìm hoành độ giao điểm giữa 2 đường cong (C1) , (C2)
G12.20    Vẽ đường cong tham số 3D
G12.21    Tính diện tich mặt tròn xoay
G12.22    Tích thể tích vật tròn xoay  (C) , trục  Ox , x =a , x= b
G12.23    Thể tích vật tròn xoay
G12.24    Tích thể tích vật tròn xoay (C1) , (C2) , trục OX , x = a , x = b
G12.25    Khảo sát hàm số đơn giản
G12.26    Tìm cực trị của hàm số
G12.27    Tìm nguyên hàm của hàm số
G12.28    Tính tích phân xác định


HÌNH HỌC 12


H12.1  Tính khoảng cách 2 điểm trong 2D , 3D
H12.2   Viết phương trình mặt phẳng qua 3 điểm trong không gian
H12.3  Viết phương trình tham số của đường thẳng trong không gian
H12.4   Tìm công thức thể tích , diện tích hình không gian
H12.5   Vẽ đồ thị 2D , mặt 3D
H12.6    Tích có hướng 2 vector



++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

GIẢI TÍCH CAO CẤP

GI.1    Vẽ đồ thị , mặt 3D
GI.2   Vẽ đồ thị , mặt  3D
GI.3    Tích phân 2 lớp
GI.5    Tích phân kép
GI.6    Tích phân bội 3
GI.7    Tích phân bội 3
GI.8    Tích phân suy rộng
GI.9    Chuỗi và dãy số
GI.10    Các bài toán cơ bản trong vi  tích phân
GI.11     Vẽ hàm từng khúc ( piecewise ) - dùng để xét tính liên tục của hàm số
GI.12    Tính đạo hàm và tích phân một hàm số cho trước
GI.13     Vẽ đồ thị hàm số trong hệ toạ độ cực
GI.14     Tính đạo hàm riêng
GI.15    Khai triển hàm số bằng đa thức TAYLOR
GI.16    Tính tổng chuỗi số  n = 1...$\infty$
GI.17     Vẽ  đồ thị  3 hàm số

++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

Bài viết sau đây mô tả các khái niệm toán học và hướng dẫn tính toán chi tiết bằng công cụ trực tuyến , bạn đọc có thể tham khảo những nội dung chính yếu được đề cập đến trong giáo trình toán phổ thông  cùng với các ví dụ minh họa  .

Một số website hữu ích phục vụ cho việc giảng dạy và học tập môn toán :

http://quickmath.com/
http://analyzemath.com/
http://www.intmath.com/
http://www.mathportal.org
https://www.mathway.com/
https://www.symbolab.com/
http://www.graphsketch.com/
http://www.meta-calculator.com/online/?home
http://cohtrantmed.yolasite.com/widgets-tructuyen



9.  HÌNH HỌC - Đường cong 2D - Conics - Parabola

9.1  Parabola .

Mặt phẳng với hệ tọa độ Oxy ,

1. Phương trình chính tắc của Parabola  $y^2 = 2px$  ,   $x^2 = 2py$

Lưu ý
Trong nội dung tiếp sau chúng ta sẽ khảo sát chủ yếu các trường hợp Parabola $y^2 = 2px$  (P)

Dạng tổng quát  $y^2 = 2px$  (P)
Tiêu điểm  $P(p/2,0)$
Đường chuẩn  $x = - p/2$
Bán kính qua tiêu điểm  $MF = x + p/2$

Ví dụ 1.   Khảo sát Parabola (P)  $y^2=4x$
Công cụ Giải toán trực tuyến W|A 
Nhập trực tiếp vào ô  Your Problem , Click Submit
Hoặc nhập trực tiếp  http://www.wolframalpha.com

Nhập   y^2=4x
Xem   http://goo.gl/tfO7Wl


* Dùng   widget H10.II.3 KHAO SAT PARABOLA


2. Phương trình tiếp tuyến với Parabola .

2.1  Phương trình tiếp tuyến (T) tại một điểm M thuộc Parabola .
Cho (P) :  $y^2 = 2px$  (dạng chính tắc) , đường thẳng (T)   $Ax+By+C=0$
và điểm $M(x_M,y_M) \in (P)$

Giải hệ    $y^2 = 2px$ ,  $Ax+By+C=0$
Nhập  solve {y^2=2px, Ax+By+C=0}   ta có



Để (P) tiếp xúc với (T) thì  $pB^2=2AC$
Tiếp điểm M
$x = (-\sqrt{B^2 p (B^2p-2 A C)}-A C+B^2 p)/A^2$
$y = (\sqrt{B^2 p (B^2 p-2 A C)}-B^2 p)/(A B)$  với  $A,B \neq 0$

Xem    http://goo.gl/ECTRR4


Điều kiện tiếp xúc (T) với (P) là    $pB^2=2AC$
Tiếp tuyến tại M thuộc (P) :  $A(x-x_M)+B(y-y_M)=0$  nên  $C=-(Ax_M+By_M)$
Thay vào điều kiện tiếp xúc , thu được
 $pB^2=-2A.(Ax_M+By_M)$  giải phương trình này tìm quan hệ giữa A , B  , chọn A , B tương ứng .

 -Một cách vắn tắt :
Điểm $M(x_M,y_M) \in (P)$  phương trình tiếp tuyến với (P) tại M là
$y.y_M= p(x+x_M)$

Lưu ý .
Nếu   $p (B^2 p-2 A C)>0$  thì (P) cắt (T)  tại 2 điểm phân biệt .
Nếu   $p (B^2 p-2 A C)<0$  thì (P) không cắt (T)  .


2.2   Phương trình tiếp tuyến (T) với Parabola (P) song song đường thẳng (d) .
Cho (P) :  $y^2 = 2px$  (dạng chính tắc) , đường thẳng (d)   $Ax+By+C=0$

Phương trình tiếp tuyến (T)  //  (d)  là  : $Ax+By+m=0$
-Điều kiện tiếp xúc của đường thẳng (T)  $Ax+By+m=0$  và  Parabola (P)
Điều kiện tiếp xúc (T) với (P) là   $pB^2=2Am$
Giải phương trình này tìm được m .


2.3   Phương trình tiếp tuyến (T) với Parabola (P) vuông góc đường thẳng (d) .
Cho (P) :  $y^2 = 2px$  (dạng chính tắc) , đường thẳng (d)   $Ax+By+C=0$

Phương trình tiếp tuyến (T)  _|_  (d)  là  : $Bx-Ay+m=0$
-Điều kiện tiếp xúc của đường thẳng (T)  $Bx-Ay+m=0$  và  Parabola (P)
Điều kiện tiếp xúc (T) với (P) là     $pA^2=2Bm$
Giải phương trình này tìm được m .



2.4   Phương trình tiếp tuyến (T) với Parabola (P) đi qua điểm M1 không thuộc (P) .
Cho (P) :  $y^2 = 2px$  (dạng chính tắc) , đường thẳng (d)   $Ax+By+C=0$

Phương trình tiếp tuyến (T) đi qua $M_1(x_1,y_1)$  là  : $A(x-x_1)+B(y-y_1)=0$
nên  $C=-(Ax_1+By_1)$

-Điều kiện tiếp xúc của đường thẳng (T)  $A(x-x_1)+B(y-y_1)=0$  và  Parabola (P)
$pB^2=2AC$
Thay vào điều kiện tiếp xúc , thu được
$pB^2=-2A.(Ax_1+By_1)$

Giải phương trình này tìm được quan hệ giữa A , B . Chọn A và B tương ứng .


--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------


9.1.1   Khảo sát Parabola và điểm , đoạn thẳng , đường thẳng , đường tròn .

a. Khảo sát Parabola . 

Công cụ Giải toán trực tuyến W|A
Nhập trực tiếp vào ô  Your Problem , Click Submit
Hoặc nhập trực tiếp  http://www.wolframalpha.com

Ví dụ .   Khảo sát  (P)  $y^2 = -16x$
Nhập       y^2 = -16x

* Dùng   widget H10.II.3 KHAO SAT PARABOLA








b. Vẽ Parabola và điểm . 

Công cụ Giải toán trực tuyến W|A
Nhập trực tiếp vào ô  Your Problem , Click Submit
Hoặc nhập trực tiếp  http://www.wolframalpha.com
Ví dụ .   Khảo sát   (P)  y^2/4 =4x  và điểm M(2,-3)

Nhập  y^2/4 =4x , x=2 , y=-3
Xem   http://goo.gl/Zx6a0C


Kết luận   Điểm M không thuộc (P) .

c. Vẽ Parabola và đoạn thẳng . 

Công cụ Giải toán trực tuyến W|A
Nhập trực tiếp vào ô  Your Problem , Click Submit
Hoặc nhập trực tiếp  http://www.wolframalpha.com
Ví dụ .   Khảo sát   (P)  y^2/4 =4x  và đường thẳng  (d)  x - y + 2 = 0

Nhập   y^2/4 =4x ,  x - y + 2 = 0
Xem    http://goo.gl/piFehh


Kết luận   Đường thẳng (d) cắt  (P) tại 2 điểm phân biệt .

d. Vẽ Parabola và đường tròn . 

Công cụ Giải toán trực tuyến W|A
Nhập trực tiếp vào ô  Your Problem , Click Submit
Hoặc nhập trực tiếp  http://www.wolframalpha.com
Ví dụ .   Khảo sát   (P)  y^2/4 =4x  và đường tròn  (C)  (x-1)^2 + y^2  = 16

Nhập   y^2/4 =4x   ,   (x-1)^2 + y^2  = 16
Xem  http://goo.gl/38NL6t

Kết luận   Đường tròn (C) cắt  (P) tại 2 điểm phân biệt .


9.1.2   Viết phương trình Parabola  .

a. Viết phương trình Parabola biết tiêu điểm . 

Công cụ Giải toán trực tuyến W|A
Nhập trực tiếp vào ô  Your Problem , Click Submit
Hoặc nhập trực tiếp  http://www.wolframalpha.com

Ví dụ .   Viết phương trình (P) biết trục đối xứng là Ox , tiêu điểm F(5,0)
Ta có  F(5,0)  nên $p/2=5$  , $p =10$
Nhập      y^2 = 2*10x , x=5 , y = 0
Xem    http://goo.gl/wvPp96


*Dùng widget   H10.II.3 PARABOLA CO TIEU DIEM


b. Viết phương trình Parabola biết đường chuẩn . 

Công cụ Giải toán trực tuyến W|A
Nhập trực tiếp vào ô  Your Problem , Click Submit
Hoặc nhập trực tiếp  http://www.wolframalpha.com

Ví dụ .   Viết phương trình (P) biết trục đối xứng là Ox , đường chuẩn x =-3
Ta có  đường chuẩn x =-3 = -p/2    nên $p =6$
Nhập       x=-3 , y = 0 , x=3 , y^2 = 2*6x
Xem    http://goo.gl/WC7NxZ


*Dùng  widget  H10.II.3 PARABOLA CO DUONG CHUAN



c. Viết phương trình Parabola biết tiêu điểm và đường chuẩn . 

Công cụ Giải toán trực tuyến W|A
Nhập trực tiếp vào ô  Your Problem , Click Submit
Hoặc nhập trực tiếp  http://www.wolframalpha.com
Tìm  $FM = \sqrt{(x-x_F)^2+(y-y_F)^2}$
Tính  $d[M,(\Delta)]=|Ax+By+C|/ \sqrt{A^2+B^2}$
Cho  $FM^2=d[M,(\Delta)]^2$

Ví dụ .   Viết phương trình (P) biết tiêu điểm F(-4,1) , đường chuẩn x = 2

Với tiêu điểm F(-4,1)
Tìm  $FM = \sqrt{(x-x_F)^2+(y-y_F)^2}$
 $FM = \sqrt{(x+4)^2+(y-1)^2}$

Ta có  đường chuẩn  $ x - 2 = 0 (\Delta)$
Tính  $d[M,(\Delta)]=|x-2|/ \sqrt{1^2+0^2}$

Cho  $FM^2=d[M,(\Delta)]^2$

Nhập       (y-1)^2=(x-2)^2/(1^2+0^2)-(x+4)^2
Xem    http://goo.gl/bzqJln


*Dùng  widget  H10.II.3 (P) CO TIEU DIEM - DG.CHUAN   




Trần hồng Cơ
Ngày 26/07/2015


-------------------------------------------------------------------------------------------

 Mục đích cuộc sống càng cao thì đời người càng giá trị. 

Geothe 

Thứ Năm, 23 tháng 7, 2015

Biện pháp hữu ích cho máy tính .

Biện pháp hữu ích cho máy tính 



10 nguyên nhân khiến máy tính chạy chậm và giải pháp 

Ngọc Phạm (Dân Việt) 07:00 - 22 tháng 6, 2015


Đây là 10 nguyên nhân thường gặp khiến máy tính chạy chậm, và cách khắc phục để tăng tốc máy tính.

1. Sử dụng hệ điều hành cũ

Việc nâng cấp lên một phiên bản hệ điều hành mới mẻ có thể chưa được nhiều người quan tâm do phải thay đổi cả thói quen sử dụng. Tuy nhiên, tốt hơn hết người dùng nên cập nhật ngay phiên bản hệ điều hành mới nhất cho máy tính của mình nếu máy tính có hỗ trợ. Ngoài ra, cập nhật các bản vá cũng là điều cần quan tâm.

Kết quả hình ảnh cho OS

Chú ý cập nhật bản vá hay phiên bản hệ điều hành mới máy cho máy tính.
Thực tế, các bản vá hay phiên bản hệ điều hành mới luôn được hãng sản xuất sửa lỗi so với phiên bản cũ. Bên cạnh đó, độ ổn định và sự tương thích cũng được cải tiến. Nó sẽ góp phần giúp máy tính của bạn chạy tốt hơn.

2. Lưu trữ quá nhiều hình ảnh

Khi mở một thư mục có quá nhiều hình ảnh, máy tính có thể sẽ xử lý chậm. Bởi vì Windows, Mac OS,... có chế độ cho xem trước ảnh thu nhỏ thay vì chỉ hiển thị tên tập tin. Do đó, nếu muốn tăng tốc độ xử lý cho máy tính trong các trường hợp này thì người dùng nên tùy chỉnh chế độ chỉ hiển thị tên tập tin (List).

Kết quả hình ảnh cho picture wallpaper

3. Chạy quá nhiều phần mềm cùng lúc

Có một nguyên lý không phải ai cũng biết là vi xử lý máy tính (CPU) sẽ xử lý các tác vụ đang mở theo trình tự xen kẽ, tuy nhiên thời gian chờ là vô cùng ngắn (nếu chỉ có vài tác vụ).

Tuy nhiên, khi số lượng tác vụ trở nên quá nhiều, chẳng hạn ngoài hàng chục tác vụ hệ thống mà người dùng lại mở thêm hàng chục phần mềm máy tính, thì rõ ràng sẽ khiến thời gian CPU chờ xử lý ứng dụng tăng lên, đồng nghĩa máy tính chạy chậm. Ngoài ra, bộ nhớ RAM phải chia nhỏ cho các ứng dụng cũng là một nguyên nhân khiến máy chạy chậm trong trường hợp này.

Kết quả hình ảnh cho software

4. Màn hình desktop quá bừa bộn

Desktop là màn hình thường xuyên hiển thị trên chiếc màn hình máy tính, tất nhiên nó cũng đòi hỏi phải có card đồ họa xử lý. Do vậy, khi màn hình desktop càng bừa bộn thì card đồ họa càng phải căng sức xử lý liên tục cho desktop. Đây có thể không phải là vấn đề với máy tính có card đồ họa mạnh, nhưng rất đáng lưu tâm với máy tính yếu.

10 nguyen nhan khien may tinh chay cham va giai phap
Đừng để màn hình desktop quá bừa bộn.

5. Mở máy liên tục thời gian dài

Trong quá trình sử dụng các phần mềm, chúng sẽ tạo ra nhiều tập tin rác và được lưu trữ đâu đó trên máy tính. Nhiều trường hợp người dùng tắt ứng dụng thì các tập tin này vẫn còn lưu trữ tạm, gây ngốn ổ cứng, RAM... cho tới khi khởi động lại máy. Do đó, khởi động lại cũng là một cách để giải phóng tài nguyên máy tính cũng như giúp nó chạy mượt mà hơn.

Kết quả hình ảnh cho recycle bin

6. Máy bị nhiễm virus

Nhiều loại virus có thể khiến CPU máy tính luôn ở ngưỡng 100% hoặc chạy ngầm nhiều ứng dụng khác gây chiếm dụng CPU, RAM, ổ cứng mà đáng ra phải dành để xử lý các tác vụ thường dùng.
Kết quả hình ảnh cho virus

7. Xung đột phần mềm

Vấn đề này thường xuất hiện khi máy tính cài cùng lúc 2 phần mềm diệt virus trở lên. Ngoài ra, cài driver lung tung cho cùng một linh kiện (card màn hình, card đồ họa, chuột, bàn phím,...) hoặc cài driver không tương thích cũng có khả năng gây xung đột phần mềm máy tính, khiến máy tính xảy ra những lỗi khó hiểu và hoạt động chậm chạp.

Kết quả hình ảnh cho software conflicts


8. Xung đột phần cứng

Ngoài những xung đột liên quan tới phần mềm, máy tính cũng có thể sẽ bị lỗi nếu gặp xung đột phần cứng, chẳng hạn lỗi liên quan tới một chiếc USB hay smartphone đang kết nối với máy tính, thậm chí hiện tượng giựt, lag cũng có thể bị gây ra bởi card mạng.

Kết quả hình ảnh cho hardware conflict

9. Ổ cứng lớn đầy dung lượng

Khi mở máy máy tính, ổ cứng sẽ phải liên tục hoạt động để truy xuất tới từng sector của tập tin. Do đó, một ổ cứng có dung lượng quá lớn và gần như chứa đầy dữ liệu thì cũng khiến tốc độ truy xuất giảm xuống trông thấy.
Kết quả hình ảnh cho hard disk full

Máy tính chạy chậm do nhiều nguyên nhân khác nhau.

10. Mạng chậm

Kết quả hình ảnh cho slow internet connection

Nếu việc truy cập web quá chậm, khoan hãy đổ lỗi cho tốc độ xử lý của trình duyệt hay máy tính. Nguyên nhân gây ra hiện tượng này có thể là do tốc độ đường truyền internet quá chậm. Trong trường hợp sử dụng kết nối Wi-Fi, hãy đặt mật khẩu mạnh và kiểm tra, loại bỏ các thiết bị lạ đang "ăn ké" đường truyền.

Nguồn  http://danviet.vn/cong-nghe/10-nguyen-nhan-khien-may-tinh-chay-cham-va-giai-phap-601948.html

3 cách đơn giản tăng tốc mạng Wi-Fi


Bạn quá mệt mỏi vì tốc độ Wi-Fi chậm. Vẫn có cách để tăng tốc cho nó, nếu bạn sẵn sàng thử.

1.Chọn đúng kênh và tần số

Bạn nên lưu ý Wi-Fi router có các kênh khác nhau. Chỉ bằng việc thay đổi kênh, có thể bạn sẽ thấy một sự thay đổi lớn về tốc độ Wi-Fi, nhất là khi bạn đang sống ở chung cư, nơi có rất nhiều các sóng Wi-Fi khác. Những thiết bị công nghệ khác như điện thoại không dây và lò vi sóng cũng có thể ảnh hưởng đến sóng Wi-Fi.


Hãy thử tất cả các kênh để cho đến khi bạn cảm thấy tốc độ Wi-Fi được cải thiện. Các cục phát Wi-Fi hiện đại cũng phát sóng ở tần số khác nhau: 2,4 GHz và 5 GHz. Thông thường, tần số 2,4 GHz sẽ tố hơn cho các ngôi nhà lớn, nhiều tầng vì tín hiệu có thể đi xa hơn và dễ dàng xuyên qua các bức tường. Tuy nhiên, với các phòng nhỏ hoặc hộ gia đình, bạn nên chọn tần số 5 GHz bởi nó cho tốc độ nhanh hơn nhiều, nhưng ở khoảng cách ngắn hơn.
3 cach don gian tang toc mang Wi-Fi

2.Đặt router ở vị trí lý tưởng

Hãy nghĩ đến những vị trí cao và trung tâm. Một cái kệ đặt cao, ở giữa căn phòng sẽ là vị trí lý tưởng nhất để phát Wi-Fi. Nếu Wi-Fi router của bạn có ăng-ten và bạn cần tín hiệu đi xuyên tường, hãy đặt ở một vị trí sao cho ăng-ten nhìn thẳng vào tường. Nếu đặt trong góc, tốc độ Wi-Fi sẽ bị sụt giảm nghiêm trọng. Một điều quan trọng nữa là cách bài trí trong ngôi nhà của bạn. Chiều cao của trần nhà, kích thước căn phòng và một vài vật liệu xây dựng nhất định có thể ảnh hưởng đến tốc độ Wi-Fi. Kẻ thù lớn nhất của Wi-Fi là nước và cửa sổ. Những ống nước gần đó, thậm chí là cả cây cối (có nước ở trong lá) có thể làm chậm tốc độ Wi-Fi.

3.Đảm bảo router được bảo mật

Đặt mật khẩu cho router của bạn và hạn chế loại thiết bị có thể truy cập mạng sẽ giữ cho tốc độ Wi-Fi được ổn định. Ngoài ra, còn rất nhiều lý do khác khiến bạn nên giữ bảo mật cho mạng Wi-Fi, ngoài việc tăng tốc độ.

Nguồn  http://danviet.vn/cong-nghe/3-cach-don-gian-tang-toc-mang-wifi-510535.html

5 mẹo tăng tốc mạng Wi-Fi tại gia



Truy cập internet quá chậm thông qua mạng Wi-Fi tại nhà, phải làm sao?

Wi-Fi (Wireless Fidelity) hay mạng 802.11 là hệ thống mạng không dây sử dụng sóng vô tuyến, giống như điện thoại di động, truyền hình và radio. Hiện Wi-Fi cũng đang được các gia đình quan tâm trang bị vì tính tiện dụng của nó chỉ thông qua một thiết bị gọn nhẹ (access point, router,...).


5 meo tang toc mang Wi-Fi tai gia

Tuy nhiên, nếu cảm thấy việc truy cập internet qua sóng Wi-Fi chậm hơn nhiều so với hình thức kết nối cáp mạng đối với cùng một đường truyền thì bạ có thể tham khảo các mẹo sau:

1. Đặt thiết bị phát ở nơi thoáng

Sóng Wi-Fi có thể bị yếu đi nếu bạn đặt chúng ở một nơi quá kín kẽ, như bao quanh bởi 4 bức tường. Do đó, bạn cần xác định rõ không gian thường xuyên truy cập mạng để đặt thiết bị này trong vùng không gian phù hợp, cũng như giảm tối đa khoảng cách giữa thiết bị phát Wi-Fi và thiết bị sử dụng để truy cập internet.

5 meo tang toc mang Wi-Fi tai gia

2. Tự chế phụ kiện tăng sóng

Cũng như cách thu và phát sóng từ các loại chảo truyền hình, bạn có thể tự chế cho thiết bị phát Wi-Fi ở nhà một phụ kiện tương tự. Rất đơn giản, bạn chỉ việc cắt một vỏ lon bia để vây quanh một phần cột sóng của thiết bị, tất nhiên hướng được vây lại phải là hướng bạn không bao giờ dùng tới. Trong quá trình thiết kế, bạn linh động thay đổi vị trí đặt phụ kiện này sao cho sóng không dây phát ra có thể được nó hội tụ lại vào vị trí bạn dùng smartphone, laptop truy cập internet.


5 meo tang toc mang Wi-Fi tai gia

3. Kiểm soát người ngoài truy cập

Một điều hiển nhiên là càng nhiều người truy cập vào mạng Wi-Fi sẽ khiến tốc độ sử dụng internet của mỗi người bị giảm đi. Do đó, nếu đang sử dụng mạng Wi-Fi cá nhân ở nhà (có bảo mật bằng mật khẩu hoặc không) thì bạn nên kiểm tra lại ngay các thiết bị đang kết nối vào mạng để loại bỏ kịp thời. Trong trường hợp đã cài đặt mật khẩu mà vẫn có người ngoài truy cập, bạn có thể nâng lên các mức mã hóa cao hơn.

4. Cập nhật firmware mới nhất

Khi có thông tin về việc thiết bị phát Wi-Fi, modem đang sử dụng có bản cập nhật firmware mới, bạn hãy dành thời gian tìm hiểu xem bản cập nhật này có ổn định chưa để cập nhật ngay cho thiết bị. Thông thường, các bản cập nhật mới sẽ giúp router, modem hoạt động ổn định và bảo mật hơn.

5 meo tang toc mang Wi-Fi tai gia

5. Rút ngắn dây cáp nối modem và thiết bị phát Wi-Fi

Đối với các thiết bị phát Wi-Fi cần sử dụng thêm modem, bạn hãy rút ngắn tối đa độ dài của cáp mạng nối 2 thiết bị trên. Mặc dù cáp mạng thông thường có thể truyền tín hiệu hàng chục mét, nhưng càng dài thì tín hiệu sẽ càng bị nhiễu.


Nguồn  http://danviet.vn/cong-nghe/5-meo-tang-toc-mang-wifi-tai-gia-511242.html




 -------------------------------------------------------------------------------------------

 Mục đích cuộc sống càng cao thì đời người càng giá trị.

 Geothe


Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2015

DANH NHÂN VIỆT .


DANH NHÂN VIỆT .


Hai anh em - hai nhà khoa học Việt kiều nổi tiếng

Vietsciences-   Bình Minh                 16/08/2009


Trong cộng đồng người Việt tại Pháp có hai nhà khoa học nổi tiếng cùng sinh ra trong một gia đình. Đó là ông Nguyễn Quang Riệu, nhà thiên văn học, và ông Nguyễn Quý Đạo, nhà hóa học. Cả hai đều là tiến sĩ, Giám đốc nghiên cứu danh dự của Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp (CNRS), đã từng có những công trình khoa học được giới chuyên môn đánh giá cao và có nhiều đóng góp cho cả Pháp và Việt Nam.



Ông Nguyễn Quang Riệu và  Nguyễn Quý Đạo

Trong cộng đồng người Việt tại Pháp có hai nhà khoa học nổi tiếng cùng sinh ra trong một gia đình. Đó là ông Nguyễn Quang Riệu, nhà thiên văn học, và ông Nguyễn Quý Đạo, nhà hóa học. Cả hai đều là tiến sĩ, Giám đốc nghiên cứu danh dự của Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp (CNRS), đã từng có những công trình khoa học được giới chuyên môn đánh giá cao và có nhiều đóng góp cho cả Pháp và Việt Nam.

Ông Nguyễn Quang Riệu và ông Nguyễn Quý Đạo quê ở Hải Phòng. Hai ông được gia đình gửi sang Pháp du học từ khi còn trẻ. Theo lời ông Nguyễn Quang Riệu, quãng thời gian học đại học là thời kỳ khó khăn nhất đối với hai anh em ông vì lúc đó tại quê nhà đang có chiến tranh, hai ông mất liên lạc với gia đình. Để có tiền giúp hai anh em sinh sống và tiếp tục học tập ông Riệu phải vừa học vừa làm nhiều nghề, trong đó có nghề dạy kèm và trợ giảng. Bằng ý chí quyết tâm và nghị lực của mình, hai anh em ông đã vượt qua giai đoạn khó khăn đó và đã tốt nghiệp đại học loại xuất sắc, sau đó đoạt bằng tiến sĩ và trở thành các nhà nghiên cứu khoa học nổi tiếng. Ông Nguyễn Quang Riệu làm ở Đài Thiên văn Paris, đã từng công bố hàng trăm công trình khoa học nghiên cứu về các vấn đề của vũ trụ như các tia bức xạ vũ trụ hoặc các nguyên tố hóa học có khả năng dẫn đến sự sống trong dải Ngân Hà. Năm 1972 ông Riệu xác định được vụ nổ trên chòm sao Thiên Nga và đó được coi là một trong những phát hiện quan trọng trong ngành Thiên văn. Viện Hàn lâm khoa học Pháp đánh giá cao các công trình nghiên cứu của ông Nguyễn Quang Riêu. Với đóng góp đó năm 1973 ông được Đài Thiên văn Paris trao giải thưởng. Ông Nguyễn Quý Đạo cũng rất thành công trong nghề nghiệp của mình. Ông là tác giả của hơn 300 tài liệu nghiên cứu khoa học và là chủ nhân của ba bằng sáng chế, được nhiều trường đại học trên thế giới mời thuyết trình.
Có một điều đặc biệt là cả hai anh em ông Nguyễn Quang Riệu và ông Nguyễn Quý Đạo tuy sống nhiều năm ở nước ngoài nhưng vẫn nặng lòng với quê hương, đất nước. Trong các dịp trò chuyện với hai ông, tôi, người viết bài này, đã từng được nghe các ông hào hứng kể về cảm giác vui sướng của mình khi nghe tin Việt Nam chiến thắng ngoại xâm, tái lập hòa bình. Với các ông, hòa bình không chỉ mang lại hạnh phúc cho người dân trong nước mà còn tạo điều kiện để hai anh em ông về quê góp phần cống hiến cho quê hương. Sau ngày đất nước thống nhất, hai ông đều về nước rất sớm. Kể từ đó đến nay hai anh em ông Nguyễn Quang Riệu và Nguyễn Quý Đạo đã về Việt Nam nhiều lần. Ông Nguyễn Quang Riệu thì tham gia các khóa giảng dạy về vật thiên văn tại các trường đại học, nói chuyện về khoa học vũ trụ, làm việc với các cơ quan hữu quan Pháp để xin các xuất học bổng cho sinh viên Việt Nam. Ông còn viết sách về thiên văn bằng tiếng Việt và xuất bản ở trong nước để phổ biến kiến thức về vũ trụ học cho mọi người. Tôi đã từng dự một buổi nói chuyện của ông, thấy ông hào hứng, say sưa nói về vụ nổ bigbang, về vũ trụ thuở sơ khai, về các hành tinh và các thiên hà với các cử tọa mà đa số đều là những người chưa biết gì nhiều về thiên văn học. Điều đó cho thấy ông Riệu say mê công việc của mình như thế nào. Dường như với ông, quan sát các vì sao, nghiên cứu đời sống bí ẩn của chúng là một niềm hạnh phúc và ông muốn chia sẻ niềm hạnh phúc đó cho tất cả mọi người.

Để phổ biến các hiểu biết về khoa học thiên văn và khoa học môi trường tới nhiều người, ông viết một loạt sách khoa học thuộc loại dễ đọc bằng tiếng Việt, trong đó các cuốn như “Phòng thí nghiệm thiên nhiên vĩ đại”, “Lang thang trên dải Ngân Hà”, “Sông Ngân khi tỏ khi mờ”, “Bầu trời tuổi thơ” và “Con đương đến với những vì sao” để in và xuất bản tại Việt Nam.

Giống như anh mình, ông Nguyễn Quý Đạo cũng luôn quan tâm tới đất nước và tìm cách đóng góp công sức tài năng cho quê hương. Trong những lần về nước ông Đạo đã cùng các nhà khoa học Việt Nam thực hiện nhiều công trình khoa học có giá trị. Ông rất quan tâm đến việc đào tạo các nhân tài cho Việt Nam và đã từng kiến nghị Nhà nước mạnh dạn đầu tư xây dựng cơ sở trang thiết bị nghiên cứu hiện đại nhằm tạo điều kiện làm việc cho các nhà khoa học trong nước, đồng thời góp phần thu hút chất xám của kiều bào cũng như chất xám của các nhà khoa học trên thế giới, mở ra các cơ hội hợp tác quốc tế, đưa đến việc thực hiện các công trình nghiên cứu mang tầm vóc quốc tế ngay tại Việt Nam. Ông Đạo đã được trao danh hiệu “Vinh danh nước Việt 2005”, do có nhiều đóng góp cho đất nước.

http://baodaidoanket.net/ddk/mdNews.ddk?masterId=90&categoryId=218&id=19504



            ©  http://vietsciences.free.fr  và http://vietsciences.org



GS Tạ Quang Bửu, tấm gương và những lời căn dặn

Vietsciences-Nguyễn Lân Dũng              31/03/2010

           Trong những ngày này, khi nói đến những giải pháp giải quyết những bất cập, lạc hậu, bệnh hình thức, giả dối kéo dài trong nền giáo dục nước nhà, nhiều trí thức thường nhắc đến tấm gương và những di huấn của GS Tạ Quang Bửu (1910-1986), Bộ trưởng bộ Quốc phòng thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp và Bộ trưởng bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp đầu tiên, nhà bác học lớn của đất nước, một “Lê Quý Đôn thời đại Hồ Chí Minh". Đó là một nhà trí thức từ hơn 40 năm trước đã kiên tâm phấn đấu cho một nền giáo dục “thực dạy, thực học", "học đi đôi với hành" và đã sớm chỉ ra rằng đất nước không thể tiến lên được nếu không thanh toán được một nền sản xuất không có kỹ thuật và một nền kỹ thuật thiếu cơ sở khoa học, tức là nếu không sớm vươn lên một nền kinh tế tri thức như cách gọi hôm nay. 

            Giáo sư Bửu có sự uyên bác rất kỳ lạ. Tôi chỉ nói một khía cạnh nhỏ, đó là lĩnh vực Sinh học- một lĩnh vực khác hẳn với chuyên ngành Toán học, chuyên ngành mà ông đã lấy bằng Tú tài Toán từ năm 1929, và sau đó là những năm được đào tạo chính quy ở các Đại học Paris, Bordeaux (Pháp) và Oxford (Anh)... 
         Trong kháng chiến chống Pháp, khi bố tôi làm Giám đốc Giáo dục Liên khu X, có lần Cụ đã mang về nhà cuốn sách “Sống” và cuốn “Vui sống” do GS Tạ Quang Bửu viết, được in trên giấy dó. Tôi còn nhỏ quá nên đọc không hiểu. Sau này học đại học chuyên ngành Sinh học tôi mới có điều kiện đọc lại. 
          Phải nói là kỳ lạ vì GS Bửu viết ra những điều rất uyên bác ấy vào năm 1948, nghĩa là 5 năm trước khi J.D. Watson và F.H.C. Crick khám phá ra cấu trúc ADN, mở màn cho thời đại Sinh học phân tử. Thời ấy mà GS Bửu đã viết được: Ngoài chromosome (nay gọi là nhiễm sắc thể- NLD) thì tế bào chỉ chứa những hóa chất không có gì đặc sắc... Nhưng số đặc tính trong một con người lớn hơn số chromosome nhiều, nên các đặc tính ấy chỉ có thể chiếm những phần tử rất bé của chromosome: mỗi đặc tính sẽ chiếm một căn cứ gọi là gen...Một chromosome là một chuỗi gồm 2000 gen và như thế chiều dài của mỗi gen không quá 3/10000mm hay ba trăm Angstrom. Theo đó một gen dài bằng một trăm lần khoảng cách giữa hai nguyên tử trong một khí. Còn bao nhiêu khái niệm hiện đại khác mà GS Bửu ghi bằng tiếng Anh. Bất kỳ nhà Sinh học nào đọc lại cuốn sách mỏng này và nhớ rằng GS Bửu viết ra vào năm 1948 thì chỉ có thể từ ngạc nhiên đến khâm phục.
           Ngày nay, khi các nhà Sinh học trên thế giới bắt đầu chuyển sang nghiên cứu Sinh học lượng tử (Quantum Biology) thì ngay trong cuốn sách rất mỏng kia GS Bửu đã khẳng định được rằng: Gen, phân tử khổng lồ, theo thuyết Delbruck, cũng là một hệ thống phải cắt nghĩa bằng những định luật của Lượng tử học. Tiếc rằng tác phẩm này GS Bửu viết bằng tiếng Việt chứ nếu không chắc hẳn phải được coi là một trong những trước tác kinh điển của giới Sinh học quốc tế, vì trong đó đã có những tiên đoán rất khoa học. 
         Về những uyên bác trong Toán học và Vật lý học của GS Bửu chắc chúng ta đều đã biết rõ. Tôi vô cùng ngạc nhiên khi biết GS Bửu là người cùng KS. Phạm Quang Lễ (tức GS Trần Đại Nghĩa sau này) đã lên Thái Nguyên thử đạn bazôca của Mỹ ngay sau khi KS Lễ vừa theo Bác Hồ từ Pháp về Hà Nội. Ông không chỉ uyên bác về kiến thức mà rất tài hoa trong việc viết tài liệu phổ biến khoa học. Cái khó mà tôi cố học ở ông là: viết thế nào để ai đọc cũng thấy những cái mới nhưng ai đọc cũng hiểu được, hay ít nhiều hiểu được nội dung chủ yếu.

         Sự uyên bác của GS Bửu gắn liền với tinh thần tự học suốt đời của ông. Ông chỉ có bằng Cử nhân trong tay, cho nên khi có người hỏi bằng cấp nào cao nhất mà ông có thì người ta đồn rằng ông đã trả lời là Bằng bơi lội do Hoàng gia Anh cấp. 
         Ông miệt mài đọc sách và chọn toàn những quyển cốt lõi nhất để đọc. Thí dụ như về Sinh học ông chọn cuốn Was ist leben? của Erwin Schrödinger qua bản dịch tiếng Đức (vì không có nguyên bản tiếng Anh). Ông thông thạo tiếng Anh, Pháp, Đức, Nga và cả chữ Hán nữa. Khi đã ở cương vị lãnh đạo cao, GS Bửu vẫn đều đặn đến thư viện khoa học để tự chọn sách mượn về đọc. 
       Là người lãnh đạo ngành đại học và trung học chuyên nghiệp trong 11 năm trời, GS Bửu đã đặt nền móng cho sự nghiệp đào tạo không chỉ cho hai ngành này mà cả cho ngành giáo dục phổ thông nữa. 
         Xin nhắc lại một số ý kiến mà GS Bửu đã từng phát biểu: Mục đích phấn đấu của chúng ta là làm cho học sinh tốt nghiệp lớp 10 phải biết làm một số việc như biến đổi đại số, giải một số phương trình đại số, tính được một số đạo hàm, vẽ một số đồ thị; còn về mặt hình học cũng phải biết làm một số động tác cần cho các chứng minh và cho việc dựng hình. Biết làm là chủ yếu còn biết nhiều về toán hoc chỉ là yêu cầu phụ và chúng ta phải làm sao cho học sinh thông qua biết làm mà biết nhiều và biết sâu...Thầy cần tránh nói sai để sau phải cải chính lại, vì cải chính chỉ xóa bỏ cái sai của thầy chứ không xóa được cái sai mà trò đã tiếp thu...Ở bậc phổ thông, bài tập nên theo sát từng đợt các bài giảng để học sinh nắm vững định nghĩa và quy tắc. Rõ ràng không cần nhiều bài tập mà cần một số ít nhưng thật tiêu biểu, nhất định phải làm được... Thần đồng toán học là một quá trình xây dựng chứ không phải là một hiện tượng bẩm sinh... Chúng ta nên kiên quyết tập cho học sinh từ bé cân nhắc trước khi viết, biết quý sự viết ít mà đúng...Hình như chúng ta chưa làm được bao nhiêu so với các lời căn dặn của GS Bửu. 
         Trong gần một thập kỷ phụ trách việc xây dựng và quản lý nền khoa học và công nghệ nước ta, GS Bửu cũng đã có biết bao chính kiến cơ bản và thỏa đáng. Chúng ta không thể quên những lời chỉ bảo của ông, chẳng hạn như: Kỹ thuật là nhập cảng, là bắt chước, rồi cải tiến, sáng tạo trong cái bắt chước... Tất nhiên chúng ta càng phải sáng tạo.Nhưng sáng tạo ở đâu? Sáng tạo thế nào? Sáng tạo để làm gì? Chưa thật rõ ràng lắm. Phải chăng chúng ta phải sáng tạo để nâng cao hiệu suất và chất lượng? Ý thức về chất lượng, kỷ luật và chất lượng của chúng ta còn thấp. Cứ như vậy mãi, sẽ khó mà có tiến bộ kỹ thuật, đừng nói gì đến cách mạng kỹ thuật… Chúng ta phải thanh toán càng nhanh càng tốt hiện tượng sản xuất không có kỹ thuật. Hơn nữa, chúng ta phải tiến đến thanh toán kỹ thuật không có cơ sở khoa học... Trường chúng ta phải là trường vừa học vừa làm để đào tạo ra những người vừa làm vừa học...
         GS Tạ Quang Bửu có một nhân cách hết sức quý giá. Chưa bao giờ ông lo nghĩ cho riêng bản thân mình. Nghe nói ông dùng chiếc TV đen trắng cho mãi đến khi người con rể tặng ông một chiếc TV màu. Ông rất gần gũi với mọi người và biết chọn trong mỗi ngành những người giỏi để trực tiếp giao nhiệm vụ. Ông giao cho những việc rất cụ thể và tận tình hướng dẫn để có thể làm bằng được. Đi công tác địa phương ông kéo những cán bộ này đi theo và chỉ định những nhiệm vụ khoa học cần giải quyết. Càng giỏi càng khiêm tốn và càng biết tin dùng lớp trẻ. Đó là bài học không phải ai cũng có thể học được.


       Giáo sư Tạ Quang Bửu đã chia tay với chúng ta 24 năm rồi, nhưng tấm gương và những lời căn dặn của ông luôn còn mãi trong những người được có dịp làm việc với ông, những học trò của ông và tất cả những ai được biết đến về tài năng và nhân cách của ông.


            ©  http://vietsciences.free.fr  và http://vietsciences.org    Nguyễn Lân Dũng

Tin tức / Việt Nam

Chàng lao công gốc Việt trở thành khoa học gia không gian vũ trụ của Mỹ


Tiến sĩ Phạm Đăng Khánh.

Trà Mi-VOA
27.06.2015

Một thanh niên làm lao công cho các cửa hàng trong những khu mua sắm khi sang Mỹ tỵ nạn trở thành một nhà khoa học không gian vũ trụ của Trung tâm Thí nghiệm Nghiên cứu Không quân Hoa Kỳ sau 25 năm miệt mài vượt khó vươn lên.

Đó là câu chuyện thành công của Tiến sĩ Phạm Đăng Khánh, cháu nội đích tôn của sử gia nổi tiếng Phạm Văn Sơn và là cháu ngoại của nhà thơ lừng danh một thời Bàng Bá Lân.

Đến Mỹ năm 1991 theo diện HO vì bố mẹ là cựu tù nhân chính trị từng làm việc cho chính phủ Mỹ trước năm 1975, chàng thanh niên 19 tuổi quyết tâm theo đuổi ‘giấc mơ Mỹ’, phấn đấu tiến thân bằng con đường học vấn.

Ý chí kiên trì và những nỗ lực không ngừng đã mang về cho anh những thành quả đáng nể. Trong số này phải kể tới hàng trăm bài viết nghiên cứu khoa học cùng hàng chục giải thưởng của Không quân Hoa Kỳ như Huy chương Không quân về Thành tựu dân sự, Giải Kỹ sư Không quân Xuất sắc, Bài nghiên cứu Xuất sắc nhất năm. Anh cũng là thành viên phê bình trong các ủy ban luận án Tiến sĩ và Thạc sĩ tại các trường đại học Mỹ, cố vấn nghiên cứu cho các cơ quan khoa học danh tiếng của Mỹ như Cơ quan Phòng thủ Tên lửa, Cơ quan Dự án Nghiên cứu Quốc phòng cao cấp, Hội Kỹ thuật Khoa học Quốc phòng Hoa Kỳ..v..v..

Tạp chí Thanh niên VOA hôm nay mời các bạn cùng gặp gỡ tấm gương thành công Phạm Đăng Khánh, niềm tự hào của người Việt hải ngoại.

Bấm vào đây để nghe toàn bộ cuộc phỏng vấn
******************************************************************************


******************************************************************************
TS. Khánh: Khi tôi đến Mỹ, mọi sự đều bỡ ngỡ về văn hóa, lịch sử, phong tục-tập quán. Khó khăn lớn nhất đối với tôi và cả gia đình là không có đủ khả năng đọc hiểu và nói tiếng Anh. Bản thân tôi phải bắt đầu lại con đường học vấn từ lớp 10. Các khó khăn về kinh tế người tỵ nạn nào cũng phải đương đầu, nhưng mình cũng phải cố gắng. Tôi cùng với em trai mỗi sáng sớm phải đi làm thêm. Sáng sớm, chúng tôi đi dọn dẹp, lau chùi các cửa hàng to trong các khu thương mại lớn. Mình làm 2-3 tiếng/ngày, và đi học cho tới 10 giờ đêm. Lên thạc sĩ, mình được học bổng. Mình biết tiết kiệm nên tiền học bổng cũng đủ trang trải các chi phí như đi lại, xe cộ, bảo hiểm.

Trà Mi: Với những cái giá đã trả để có được vị trí hôm nay, nhìn lại, anh nghiệm ra cho mình điều gì?

TS. Khánh: Tôi nghĩ mình lúc nào cũng nên luôn làm việc chăm chỉ, không được hài lòng với những gì đạt được, và con đường đó lúc nào cũng đòi hỏi những hy sinh. Chẳng hạn như vì công việc, thời gian của tôi dành cho gia đình đã bị ít đi.

Trà Mi: Tư chất ham học, nỗ lực, và sự may mắn chiếm tỷ lệ thế nào trong sự thành công của anh?

TS. Khánh: Tinh thần học hỏi và sự nỗ lực, hai tố chất này cộng lại chiếm 90%. Còn lại là do sự may mắn hay do cơ hội chính mình tự tạo nên. Những người tỵ nạn như tôi khi gặp khó khăn mà không biết cách giải quyết vấn đề và đương đầu với khó khăn một cách tích cực thì rất khó khăn. Làm sao để vượt qua và tìm phương hướng tùy thuộc vào bản thân mỗi người kèm theo các yếu tố tác động xung quanh từ gia đình.

Trà Mi: Nếu đặt tất cả những bí quyết thành công anh vừa kể vào môi trường ở Việt Nam, anh nghĩ đích đến của mình có giống ngày hôm nay không?

TS. Khánh: Chị hỏi một câu rất sát thực tế. Những tố chất về nỗ lực, ham học, sự giúp đỡ của những người xung quanh thì ở trong hay ngoài nước mình đều có được, nhưng môi trường nuôi nấng nghiên cứu và các chính sách hay những khuyến khích từ các cơ quan, hội đồng khoa học rất quan trọng. Có thể trong nước đang dần dần có môi trường này nhiều hơn so với những năm trước, nhưng những điều kiện đó không thể nào bằng được bên Mỹ này.

Trà Mi: Có nhiều con đường để thành công, vì sao anh chọn theo đuổi con đường khoa học đầy cam go đòi hỏi rất nhiều kỳ công và chất xám để tiến thân?

TS. Khánh: Lĩnh vực khoa học luôn năng động, thay đổi, biến động nên tôi muốn đóng góp một phần nào đó cho hướng đi này.

Trà Mi: Thành tựu hôm nay đạt được trên đất Mỹ có ý nghĩa thế nào đối với anh, một người tỵ nạn gốc Việt?

TS. Khánh: Tôi vẫn luôn tự hào mình là người Việt Nam và đề ra mục tiêu dài hạn là hỗ trợ các doanh nghiệp nghiên cứu sáng tạo do người Việt đứng đầu hoặc các chuyên gia người Việt ở đây.

Trà Mi: Vì sao mục tiêu đó chỉ mới giới hạn ở cộng đồng người Việt ở Mỹ? Anh có bao giờ nghĩ tới mình có thể làm gì để đóng góp, giúp đỡ nơi chôn nhau cắt rốn của mình chăng?

TS. Khánh: Câu hỏi này tương đối rất khó. Bất kỳ thể chế nào muốn thu hút nhân tài về giúp nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Nếu đất nước trân trọng sự phát triển về khoa học, thúc đẩy và động viên tinh thần nghiên cứu khoa học thì ai cũng muốn về giúp đỡ cả. Hiện nay, tôi biết vài nhân tài người Việt bên này đang hợp tác với các cơ quan hữu trách ở Việt Nam để nâng cấp giáo dục đại học. Nhân tài người Việt ở nước ngoài đang dần dần trở về hợp tác và giúp đỡ phát triển kinh tế trong nước. Tôi nghĩ nếu môi trường và các điều kiện trong nước thích hợp với các nhân tài bên này và tạo điều kiện cho họ phát triển tài năng và lương bổng gần gần với bên này thì dần dần họ sẽ trở về thôi.

Trà Mi: Theo ý kiến của Tiến sĩ, học vấn cao và vị trí lãnh đạo có phải là thước đo chính xác về sự thành công của người trẻ hay không?

TS. Khánh: Tôi nghĩ học vấn vẫn là một công cụ nhiều tiềm năng. Về tinh thần lãnh đạo, đối với giới trẻ, nếu mình có vị trí cao trong một cơ quan hay tổ chức nào đó, mình nên truyền đạt tinh thần đóng góp tích cực và tinh thần tự nguyện. Tinh thần lãnh đạo và học vấn, hai điều này phải luôn đi đôi với nhau.

Trà Mi: Một lời khuyên cho các bạn trẻ ngưỡng mộ thành quả anh đạt được, anh sẽ nói gì?

TS. Khánh: Tôi muốn gửi đến các bạn trẻ một lời khuyên đơn giản thôi, đó là phải luôn luôn làm việc tích cực, ham học và hướng tới. Đây là những bí quyết đã giúp tôi thành công. Và mình cũng không nên quên nguồn gốc gia đình của mình và bản thân mình là ai.

Trà Mi: Xin cảm ơn Tiến sĩ Khánh rất nhiều về thời gian dành cho cuộc trao đổi hôm nay.


Chùm ảnh GS Bùi Trọng Liễu trong cuốn sách «Học gần Học xa»

Vietsciences        10/03/2010




 

Ảnh 1: Bùi Trọng Liễu (đứng giữa) và hai con, cùng trong lễ phục giáo sư đại học Pháp, 2003.
Ảnh 2 : Vợ chồng thuở chưa cưới, ảnh chụp trước lâu đài Chantilly, 1961.
Ảnh 3 : Với ông bà Tạ Quang Bửu vào dịp tác giả được mời về nước (1970), thí điểm cho việc Việt kiều về nước làm việc ngắn hạn. Lúc đó ông Bửu là bộ trưởng bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp (ảnh chụp tại nhà ông bà Bửu phố Hoàng Diệu, Hà Nội).
Ảnh 4: Với GS anh hùng lao động Lương Định Của, khi Bùi Trọng Liễu thăm viện « Nghiên cứu cây lương thực » ở Hải Hưng, trong chuyến về nước làm việc năm 1970.
Ảnh 5 : Với bộ trưởng Nguyễn Văn Hiếu (trưởng đoàn) và bà Nguyễn thị Chơn (đoàn viên), phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam tại Hội nghị hiệp thương hai bên miền Nam ở La-Celle-Saint-Cloud, sau Hiệp định Paris, 1973.
Ảnh 6 : Thăm bảo tàng họa sĩ Fernand Léger, với các ông Phạm Ngạc (bên trái trong ảnh) và Đoàn Hựu (bên phải trong ảnh), thuộc phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris. Bảo tàng Fernand Léger là một trong những địa điểm đàm phán bí mật Lê ĐứcThọ-Kissinger. Ảnh chụp 1973.
Ảnh 7 : Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Ban Chấp hành Hiệp hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam tại Pháp, tại Sứ quán Việt Nam ở Paris, trong chuyến thăm chính thức nước Pháp của Thủ tướng, 1977. Bùi Trọng Liễu, chủ tịch Hiệp hội, là người đứng ngoài cùng (thứ tư phía bên trái Thủ tướng).
Ảnh 8 : Vợ chồng Bùi Trọng Liễu (hàng ghế thứ nhì, phía bên phải tấm ảnh) tại Hội nghị « liên Mỹ » về giảng dạy Toán học, Caracas 1975.
Ảnh 9 : Tại Hội nghị Toán học toàn quốc, Hà Nội 1977. Từ phải sang trái : Phan Đình Diệu (người thứ 4), Lê Văn Thiêm (người thứ 6), bộ truởng Trần Quang Huy, trưởng Ban Việt kiểu Trung ương (người thứ 11), Bùi Trọng Liễu (người thứ 16).
Ảnh 10 : Năm 1981, một Đoàn trí thức Việt kiều tại Pháp về nước theo lời mời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Phó chủ tịch Hội đồng bộ trưởng và Ủy Ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước. Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Bùi Trọng Liễu, trưởng Đoàn, tại nhà khách Chính phủ, Hà Nội 1981.
Ảnh 11 : Với Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (Thủ tướng, tên gọi thời đó) Phạm Văn Đồng, tại phủ Chủ tịch, Hà Nội 1981.
Ảnh 12 : Ông Hoàng Quốc Việt, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc (người thứ nhất bên trái ảnh), Bộ truởng Xuân thủy (người thứ nhì) và Bùi Trọng Liễu, tại trụ sở của Mặt trận, Hà Nội 1981.
Ảnh 13 : Trong buổi làm việc của Đoàn trí thức Việt kiều tại Pháp với Bộ trưởng Nguyễn Đình Tứ (bên phải tấm ảnh), Bộ Đại học, Hà Nội 1981.
Ảnh 14 : Trưởng Ban Khoa giáo Bùi Thanh Khiết (bên trái tấm ảnh) tiếp Đoàn trí thức Việt kiều tại Pháp. Từ trái sang phải : Phạm Thị Anh Thư (đoàn viên), Bùi Trọng Liễu (trưởng đoàn), thứ trưởng Nguyễn Ngọc Trân và Nguyễn Quang Tiến (thư ký đoàn), Hà Nội 1981.
Ảnh 15 : Trong buổi Bộ trưởng Đặng Thí, trưởng Ban Việt kiều Trung ương (người đứng) tiếp Đoàn trí thức Việt kiều tại Pháp, Hà Nội 1981.
Ảnh 16 : Khai mạc Đại hội 4 Hiệp hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam tại Pháp, Paris 1982.
Ảnh 17 : Bia chữ Nôm khắc bài ký về việc thành lập Trung tâm Đại học « dân lập » Thăng Long năm 1988. Bia gắn tại 34 Hàn Thuyên, Hà Nội, trụ sở văn phòng lúc mới thành lập. Bia chữ quốc ngữ cũng gắn tại địa chỉ này.
Ảnh 18 : Bia khắc bài thơ của Bùi Trọng Liễu tặng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhân dịp kỷ niệm 50 năm Toàn quốc kháng chiến, 1946-1996.
Ảnh 19 : Từ trái sang phải : Hoàng Tụy, Lê Văn Thiêm, Colette (vợ Bùi Trọng Liễu), Nguyễn Văn Đạo, Henri Van Regemorter (chủ tịch Ủy ban Hợp tác Khoa học và Kỹ thuật vói Việt Nam, Comité pour la Coopération Scientifique et Technique avec le Vietnam). Ảnh chụp tại nhà Bùi Trọng Liễu cuối năm 1981, khi Đoàn các GS Lê Văn Thiêm, Hoàng Tụy, Nguyễn Văn Đạo ghé qua Pháp trong chuyến đi thăm Mỹ.
Ảnh 20 : Bia thứ nhất trong Văn Miếu, trên đó có khắc tên Bảng nhãn Nguyễn Như Đổ, cụ tổ bên ngoại của Bùi Trọng Liễu. Tên cụ Nguyễn Như Đổ là tên thứ nhì trên bia này.
Ảnh 21 : Tiếp GS Nguyễn Đình Trí (Đại học Bách Khoa Hà Nội) và GS Phan Đình Diệu (lúc đó còn công tác ở Viện Khoa học Việt Nam, sau này mới chuyển sang Đại học Quốc gia Hà Nội) ghé qua Pháp trong chuyến đi thăm Mỹ. Từ phải sang trái : Phan Đình Diệu và Nguyễn Đình Trí. Ảnh chụp tại nhà Bùi Trọng Liễu ở Pháp năm 1980.
Ảnh 22 : Tiếp VS anh hùng lao động Trần Đại Nghĩa. Ảnh chụp tại nhà Bùi Trọng Liễu ở Pháp năm 1983.
Ảnh 23 : Lễ « Sinh phong » ông bà nội của Bùi Trọng Liễu ở quê Nhuận Ốc, năm 1938 .
Ảnh 24 : Nhà thủy tạ trên hồ bán nguyệt, ở « sinh phần » ông bà nội của Bùi Trọng Liễu ở làng Nhuận Ốc. Các công trình xây dựng này đã bị hủy trong chiến tranh Việt-Pháp và trong thời cải cách ruộng đất.



           http://vietsciences.free.fr  và http://vietsciences.org 

Bùi Trọng Liễu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bùi Trọng Liễu (sinh 28 tháng 9 năm 1934Ninh BìnhViệt Nam - mất 5 tháng 3 năm 2010 tại Bệnh viện Antony, ngoại ô phía Nam ParisPháp) là Tiến sĩ nhà nước về khoa học, ngành Toán (Docteur d’Etat ès sciences mathématiques), là nghiên cứu viên tại Direction des Etudes et Recherches de l'EDF (1959-1963) và là giáo sư đại học (Lille 1963-1969, Paris 1969-2003).[1]
Ông sinh ra trong một gia đình trí thức ở làng Nhuận Ốc, xã Khánh Cường, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh BìnhViệt Nam. Bố ông là Bùi Văn Thiệp, một nhà tân học, từng học Trường Bưởi và Trường Cao đẳng Pháp chính Hà Nội, ra làm quan đến chức Tuần phủ Thái Nguyên, rồi Tuần phủ Phúc Yên lúc trước Cách mạng Tháng Tám.
Ông sang Pháp học và lập nghiệp tại đây. Vợ ông là Colette, một người Pháp, là tiến sĩ quốc gia về toán học, phó giáo sưĐại học Paris 4. Con trai đầu là Bùi Khảo Mạc, giáo sư Đại học Compiègne. Con trai thứ hai là Bùi A Lanh, phó giáo sư Đại học Picardie (Amiens).[2]
Thuở nhỏ, bên cạnh việc học tiếng Pháp, ông còn học chữ Hán đến mức đọc hiểu bộ tiểu thuyết cổ điển Tam Quốc chí diễn nghĩa. Theo gia đình sang Pháp từ năm 1950, khi mới 15 tuổi, gần cả cuộc đời sống nơi đất khách quê người, ông vẫn sành tiếng Việt, không chỉ trong lời ăn tiếng nói ngày thường, mà cả trong văn chương nghị luận, tranh biện hay trần thuật, hồi ký, tùy bút, tiểu phẩm.[2]
Ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ quốc gia về khoa học toán học năm 28 tuổi. Sau đó, ông được bổ nhiệm làm giáo sư Đại học Lille (1963-1969), rồi giáo sư Đại học René Descartes (Paris 5) từ năm 1969 cho đến khi về hưu. Ông là một trong số rất ít người Việt sớm được công nhận chức danh giáo sư đại học ngành toán ở Pháp nói riêng, cũng như ở phương Tây nói chung.[2]
Năm 1970 ông đã trở về thăm quê hương, làm việc với Ủy ban Khoa học Nhà nước, đến năm 1981, ông làm trưởng đoàn của đoàn trí thức Việt kiều tại Pháp về nước theo lời mời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.[1]
Ngay từ năm 1988, khi công cuộc Đổi Mới vừa bắt đầu, ông đã đứng ra sáng lập Trường Đại học Thăng Long[3] tại Hà Nội, trường đại học dân lập đầu tiên trong chính thể Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, không xin tài trợ của Nhà nước, về giảng dạy và quản lý theo quan niệm mới, phù hợp với yêu cầu của xã hội và tình hình quốc tế. Trong những ngày đầu, vợ chồng ông phải dành một phần tiền lương của mình ở Pháp để gửi về nước. Ông bà đã thành lập tại Pháp một Hội Tương trợ Đại học Pháp - Việt (Amitié Universitaire France-Vietnam) để quyên góp tiền bạc, vật dụng từ các cá nhân, đoàn thể bên Pháp gửi về, giúp trường trang trải các chi phí và hỗ trợ các học bổng miễn phí...[4][5].

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Ông là tác giả của 4 cuốn sách đã xuất bản tại Việt Nam[1] gồm:
  • Tự sự của người xa quê hương (tên cũ là Chuyện gia đình và ngoài đời), nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội 2004
  • Chung quanh việc học, nhà xuất bản Thanh niên 2004
  • Học gần, Học xa, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội 2005
  • Học một sàng khôn, nhà xuất bản Tri thức Hà Nội 2007.
Cuốn sách thứ 5 là một tạp ký còn bỏ ngỏ, đó là Hướng về quê cũ lúc chiều tà gồm các bài báo của ông đăng trên báo.[6]
Ông viết hàng trăm bài báo, tiểu luận, góp ý về cải cách giáo dục ở Việt Nam. Bài nào của ông cũng thể hiện tấm lòng dành cho quê hương. Ông đặc biệt quan tâm đến vấn đề giáo dục Đại học ở Việt Nam.[7]




 -------------------------------------------------------------------------------------------

 Mục đích cuộc sống càng cao thì đời người càng giá trị. 

 Geothe



*******

Blog Toán Cơ trích đăng các thông tin khoa học tự nhiên của tác giả và nhiều nguồn tham khảo trên Internet .
Blog cũng là nơi chia sẻ các suy nghĩ , ý tưởng về nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau .


Chia xẻ

Bài viết được xem nhiều trong tuần

CÁC BÀI VIẾT MỚI VỀ CHỦ ĐỀ TOÁN HỌC

Danh sách Blog

Thông tin hàng ngày.

Giới thiệu bản thân

Ảnh của Tôi


Các chuyên đề ứng dụng .

1. Phương trình vi phân  
2. Toán đơn giản - College Algebra 
3. Toán thực hành - Practical Mathematics 
4. Vật lý tổng quan ( đang viết )
5. Phương trình tích phân 
( đang chuẩn bị ) 

Gặp Cơ tại Researchgate.net

Co Tran