Wikipedia

Kết quả tìm kiếm

Giải toán trực tuyến W | A




Vẽ đồ thị trong Oxyz plot3D(f(x,y),x=..,y=..)
Vẽ đồ thị trong Oxy plot(f(x),x=..,y=..)
Đạo hàm derivative(f(x))
Tích phân Integrate(f(x))


Giải toán trực tuyến W|A

Thứ Ba, 10 tháng 4, 2012

Cái Không trong lượng tử - phần 2 ( hết )


Cái Không trong lượng tử  -   phần 2 ( hết )

 Đây là bài viết của tác giả Phạm Xuân Yêm trên © http://vietsciences.free.fr  và http://vietsciences. org
Xin phép tác giả được đăng tải lại trên Blog Toán - Cơ học ứng dụng  
Trân trọng cám ơn

Xem phần 1 : http://cohtran.blogspot.com/2012/04/cai-khong-trong-luong-tu-phan-1.html


+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++


Trở về với Chân không     
           
Sáu hương vị và ba màu sắc của các quark và phản hạt


Mũi tên cho thấy quá trình chuyển đổi mạnh và yếu .

Chân không lượng tử được định nghĩa như trạng thái cơ bản tận cùng của vạn vật, nó vô hướng, trung hòa, mang năng lượng cực tiểu trong đó vật chất, tức là tất cả các trường lượng tử, bị loại bỏ hết. Nhưng không phải vì Không chẳng chứa trường vật chất nào mà năng lượng của nó bằng 0. Theo nguyên lý bất định (nguồn gốc của sự thăng giáng lượng tử), năng lượng của bất cứ trạng thái vi mô nào là chuỗi (1/2)hν, (3/2)hν, (5/2) hν...chứ không phải là 0hν, 1hν, 2hν...Cũng dễ hiểu thôi, nguyên lý bất định bảo ta nếu xung lượng |k| được xác định rõ rệt bao nhiêu thì vị trí trong không gian |x| lại mơ hồ rối loạn bấy nhiêu, vậy năng lượng tối thiểu ε = (1/2) hν ≠ 0 chính là một thỏa hiệp tối ưu bình đẳng cho cả hai bên |k| và |x|. Thực thế, nếu ε  = 0, |k| = 0 , vậy |x| không sao được xác định nổi. Phản ánh nguyên lý này, thế giới vi mô luôn luôn dao động ngay ở nhiệt độ tuyệt đối thấp nhất (năng lượng cực tiểu) và đó là ý nghĩa của sự thăng giáng lượng tử. Bởi năng lượng tối thiểu khác 0 và vì tần số ν có thể là bất cứ con số nào từ 0 đến vô tận nên Không có năng lượng phân kỳ khi ta lấy tích phân tất cả các mốt dao động ν. Làm sao ước tính được năng lượng của Không, mặc dầu vô hạn? Phép phân tích thứ nguyên cho ta cách trả lời. Với ba đại lượng cơ bản phổ cập trong vật lý là h = 2π ћ hằng số Planck, G hằng số trọng lực Newton và c vận tốc ánh sáng, ta chỉ có một cách duy nhất để lập nên những đại lượng mang thứ nguyên chiều dài (L), khối lượng (M), và thời gian (T). Ðó là chiều dài Planck Lp = [Gћ /c^3]½ = 1.6 × 10^−35 m  , khối lượng Planck Mp  =  ћ /(cLp) = 2.2 × 10^−8 kg, và thời gian Planck Tp = Lp /c  = 5.4 × 10^−44 s. Từ đó, năng lượng Planck Ep  =  Mpc^2 = 2 × 10^+9 joule. Mật độ năng lượng của Không được ước tính theo (27/16π^2) Ep/(Lp)^3 = 8.4 × 10^112  joule/ m^3 với những đóng góp của các trường ảo tràn đầy trong Không :  photon trong tương tác điện từ, ba boson W±, Z0 của tương tác yếu, và tám gluon trong tương tác mạnh. Ðóng góp của quark và lepton cũng chẳng thay đổi công thức trên bao nhiêu.

Tuy nhiên chính vì vô hướng, trung hòa lại có năng lượng vô hạn, nên cái Không lượng tử mang ẩn dụ một hư vô mênh mang tĩnh lặng, từ đó do những kích thích nhiễu loạn của năng lượng mà vật chất được tạo thành để rồi chúng tương tác, biến đổi, phân rã rồi trở về với Không, tiếp nối bao vòng tục lụy! Cái Không lượng tử thực là trạng thái cơ bản, là cội nguồn và chốn trở về cũng như ra đi của vạn vật. Nó không rỗng tuếch chẳng có gì mà là cái thế lắng đọng của tất cả. Chân không-Vật chất-Không gian-Thời gian chẳng sao tách biệt, cái này có là cái kia có, cái này không thì cái kia không, đó là hệ quả của Lượng tử và Tương đối! Thực thế, thuyết Tương đối hẹp liên kết Không gian và Thời gian, còn Tương đối rộng nối Vật chất với Không-Thời gian và cuối cùng Lượng tử mang Chân không về với Vật chất và như vậy kết nối cả bốn khái niệm cơ bản trên. Dưới một khía cạnh nào, ta cảm nhận cái Không qua câu nói đáng yêu đầy ẩn dụ của đồng bào miền nam “dzậy mà không phải dzậy”, không mà chẳng là không. Mặc dầu Không là trạng thái không sao nắm bắt, chẳng có cái nào của  nó mà ta định lượng nổi, nhưng rõ ràng khác với hư không trong công nghệ, về mặt định tính ta có thể kể ba đặc trưng của Không. Ðó là sự thăng giáng lượng tử, sự tràn đầy hạt và phản hạt kết thành các cặp ảo trong Không và sự phân cực chân không, gây ra bởi các cặp này. Phản ánh tác động của Không, hai hệ quả sau đây được phát hiện và đo lường được:
Sơ đồ Feynman cho thấy sự phát xạ của gluon QCD. Quark thay đổi màu sắc, nhưng hương vị của chúng vẫn như nhau: u vẫnu d vẫn là  d.

1- Hằng số di động : Không lượng tử tự nó thì vô hướng tĩnh lặng, nhưng khi có vật chất vào (mà làm sao chẳng có vật chất được vì trong Không tràn đầy năng lượng và trường ảo?) thì lập tức bị phân cực, do đó hằng số tương tác của các trường không còn hằng nữa mà thay đổi với năng lượng. Tính chất này mang tên hằng số di động, cách tính toán sự biến đổi của hằng số dựa vào lý thuyết trường lượng tử qua những đóng góp của các cặp ảo. Khi năng lượng thay đổi từ 1 đến 100 GeV, hằng số tương tác điện từ αem tăng lên từ 1/137 đến  1/129, trong khi hằng số tương tác mạnh αs của quark lại giảm đi từ  0.4 xuống  0.12. Một cách định tính thôi, ta hiểu sơ lược tại sao trong điện động lực học lượng tử, hằng số αem  lại tăng lên khi ta thám dò nó ở chiều càng sâu thẳm. Muốn gần electron bao nhiêu (x nhỏ) để đo lường tính chất của nó thì ta cần nhiều xung lượng (k lớn) bấy nhiêu, theo nguyên lý bất định 2׀k׀׀x׀ ~ ћ. Vì trong Không có muôn vàn cặp ảo positron-electron, những positron ảo này vì điện tích khác dấu với electron nên bị hút lại gần làm thành hàng rào vây quanh electron thực mà ta muốn quan sát, sự bao bọc đó làm cho chân không bị phân cực. Hằng số tương tác điện từ tăng lên vì phải vượt qua cản trở của hàng rào các cặp positron-electron ảo nên đo lường nó càng khó ở kích thước càng sâu. Mặt khác, sắc động lực học lượng tử diễn tả quark gắn chắc với nhau để cấu tạo nên các hạt nhân nguyên tử. Trái với điện từ, hằng số tương tác mạnh lại giảm đi khi đo lường quark ở chỗ sâu thẳm. Tính chất này gọi là sự tự do tiệm cận, hàm ý khi năng lượng tăng vô hạn (tiệm cận) thì αs giảm xuống đến 0 (tương tác ràng buộc hết rồi, quark được tự do). Tính toán nhọc nhằn chứng minh được αs(E) → 0 khi E → ∞ là cả một kỳ công của ba nhà vật lý lý thuyết, tính chất này đặt nền tảng cho các định luật vận hành của quark. Các hằng số tương tác tăng (hay giảm) rất khoan thai như hàm log E (hay 1/ log E) . Kết quả đo lường sự biến đổi của hai hằng số điện động lực và sắc động lực đều được thực nghiệm kiểm chứng nhiều lần. Tương tác của quark thực là kỳ lạ trái ngược với điện từ, quan sát chúng ở xa (cần năng lượng nhỏ) thì cực kỳ khó khăn vì αs  rất  lớn, càng gần sát chúng (cần năng lượng lớn) thì chúng lại dễ dàng. Lý do là không như điện từ chỉ có một photon, trong tương tác mạnh ta còn có ba gluon gắn kết tương tác với nhau mà đặc tính của chúng là hỗ trợ (chứ không cản trở như cặp quark-phản quark) khi ta đo lường tính chất quark ở chiều sâu thẳm. Trong khi lực điện tĩnh và trọng lực đều giảm đi theo tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách r, tính chất tự do tiệm cận làm cho lực của quark tăng với r khiến quark ở nhiệt độ thấp (năng lượng nhỏ) bị giam hãm trong proton và neutron, kéo được chúng ra ngoài không nổi vì lực ràng buộc quark mạnh lên khi kéo chúng xa nhau.
 Mô tả nổi ba lực cơ bản (mạnh và điện-yếu) một cách vô cùng chính xác bằng trường lượng tử, tóm tắt trong lý thuyết chuẩn, là một thành công kỳ diệu với không dưới hai chục nhà vật lý hạt đoạt giải Nobel trong ba mươi năm gần đây! Biết bao nhiêu tiên đoán của lý thuyết này đều vững vàng vượt qua tất cả các trắc nghiệm, đặc biệt khối lượng của quark top được ước tính chính xác trước khi thực nghiệm phát hiện ra năm 1995. Mô hình chuẩn có nghĩa là mọi phát triển sau này phải dùng nó làm nòng cốt để dựa vào mà cải tiến (thí dụ như định luật vạn vật hấp dẫn của Newton là mô hình chuẩn của trọng trường, rồi sau thuyết tương đối rộng của Einstein dựa vào đó mà cải tiến). Trong bốn lực cơ bản chỉ còn cái cuối cùng là luật cổ điển hấp dẫn (thuyết tương đối rộng) hãy còn chưa hòa nhịp tương thích nổi với lượng tử, nhưng biết đâu với lý thuyết siêu dây/ lý thuyết M?

2- Hiệu ứng Casimir.   Trong một chân không kín rỗng, không ánh sáng không chút vật chất, ta đặt hai phiến gương mỏng song song. Mặc dầu năng lượng của Không giữa hai phiến và ngoài hai phiến đều phân kỳ như ta biết, nhưng năng lượng của Không ở giữa nhỏ hơn ở ngoài hai phiến, sự khác biệt hữu hạn đó gây nên một áp suất làm chúng hút lẫn nhau. Ðó là lực Casimir, một đặc trưng của Không lượng tử. Lực hút đó ông tính được ra bằng Fc = (πhc/120) (L^2/d^ 4) với L^2  là diện tích của gương và d khoảng cách giữa hai phiến. Nguồn gốc lượng tử của Fc được biểu hiện rõ ràng qua h (hằng số Planck) trong công thức trên. Ở khoảng cách d ≈ nanô-mét trong công nghệ tương lai, lực này có thể đóng vai trò quan trọng. Các phòng thực nghiệm ở Riverside (California), Padova, Stockholm đã đo Fc với độ sai biệt khoảng 1% so với tính toán. Các nhà vật lý trong nhóm Kastler-Brossel của trường Cao đẳng sư phạm Paris đang xúc tiến việc tính toán đo lường với chủ đích tăng độ chính xác lên nhiều lần hơn nữa (http://www.spectro.jussieu.fr/Vacuum/). Trong hư không (của vật lý ứng dụng/công nghệ) tất cả đều vắng bóng chẳng có điện từ, ánh sáng, vật chất, khối lượng, điện tích, sắc tích...chi cả, kỳ lạ thay đột khởi một lực mà gốc nguồn rút tỉa từ năng lượng cực tiểu (nhưng vô hạn) của chân không lượng tử!
Max Planck
Born April 23, 1858
Kiel, Duchy of Holstein
Died October 4, 1947 (aged 89)
Göttingen, Lower Saxony, Germany
Nationality German
Fields Physics

3- Liên quan đến thiên văn vật lý, câu hỏi cực kỳ quan trọng về vai trò của Không trong sự dãn nở Vũ trụ được đặt ra nhưng chưa biết giải đáp ra sao, báo hiệu một điều mới lạ đang đón chờ chúng ta ở chân trời. Thực vậy năng lượng vô hạn của Không (còn gọi là tai họa chân không) phản ánh sự tương phản mâu thuẫn căn bản giữa hai trụ cột của vật lý hiện đại: thuyết lượng tử của thế giới vi mô và thuyết tương đối rộng của thế giới vĩ mô. Thuyết này diễn tả luật hấp dẫn của trọng trường là do sự cong xoắn của không-thời gian làm mọi vật rơi lại gần nhau chứ chẳng có lực nào hút chúng cả, mà cái cấu trúc cong xoắn này là do vật chất tạo nên. Những kết quả đo lường gia tốc dãn nở của Vũ trụ cần đến lực phản hấp dẫn (lực đẩy xa thay vì hút vào của lực hấp dẫn) để chống lại sự co rút của Vũ trụ bởi trọng trường. Lực phản hấp dẫn này (liên quan đến câu chuyện hằng số vũ trụ học trong phuơng trình Einstein về thuyết tương đối rộng) có thể xuất phát bởi một loại vật chất không bức xạ, chỉ tác động lên cách vận hành và dãn nở của Vũ trụ, khác lạ với vật chất bình thường của những thiên hà sáng ngời mà ta quan sát được hàng ngày. Các nhà thiên văn gọi cái vật chất khác lạ này là vật tối, mang năng lượng tối mà bản chất chưa được xác định. Nhưng quan trọng hơn cả, mật độ năng lượng cực kỳ lớn của Không mà ta đã ước tính ở trên vượt xa quá nhiều năng lượng cần thiết để giải thích gia tốc dãn nở của Vũ trụ mà các nhà thiên văn đo lường. Về mặt cơ bản, cái tai họa chân không này là nỗi trăn trở hàng đầu của các nhà vật lý đương đại, nhưng đầy lý thú và thách thức cho thế hệ tương lai. Lý thuyết siêu dây/lý thuyết M9 (với không gian mười chiều, bảy chiều quá nhỏ lại bị cuốn tròn khiến ta khó nhận thức được) có thể cho ta chìa khóa trả lời không? Trong không gian nhiều hơn ba chiều, lực hấp dẫn giảm đi theo tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách r sẽ không còn chính xác nữa, và việc kiểm chứng bằng thực nghiệm sự sai biệt với luật Newton ở kích thước r ≈ milimét đang là một đề tài vật lý sôi nổi. Cần biết thêm rằng lý thuyết M (M tượng trưng Mẹ, Màng, Mật mã, Ma trận tùy hứng mỗi người) cũng chưa biết giải quyết cái tai họa chân không ra sao. Phải chăng cũng như Planck và Einstein trước thời Lượng tử và Tương đối, ngày nay có lẽ còn cái gì đang thiếu sót trong cách nhận thức các hiện tượng thiên nhiên của Con Người ?


Gửi bạn thay lời kết    
 Hơn trăm năm trước đây ở Âu châu có nhiều nhà khoa học khá bi quan cho rằng các đề tài nghiên cứu cơ bản trong vật lý gần như cạn kiệt, như von Jolly giáo sư vật lý ở đại học Berlin đã khuyên cậu sinh viên trẻ Planck, mới đậu cử nhân xong muốn học thêm, nên đi vào đường khác nhiều triển vọng hơn, đừng nghiên cứu về vật lý lý thuyết làm gì vì mọi điều căn bản đã được khám phá hết cả rồi, chỉ còn vài điểm phụ chẳng quan trọng gì mà xây nền đắp móng. Lại thêm Lord Kelvin, người của nhiệt độ tuyệt đối, với câu tuyên bố năm 1892 nổi tiếng: “Vật lý đã hoàn chỉnh cả rồi về mặt căn bản, cái mà ta còn có thể đóng góp chỉ là xác định thêm vài thập phân sau dấu phẩy cho các đo lường, tính toán mà thôi”. Ngay sau đó ông thêm: “Tuy nhiên còn có hai vấn đề nho nhỏ nhưng sớm muộn chúng sẽ được giải quyết, dẫu sao lòng tin của chúng ta về sự hoàn tất của Vật lý không hề lay chuyển...”. Hai tiểu tiết ông nêu lên là: thứ nhất hai nhà vật lý Michelson và Morley chẳng tìm thấy chất liệu ê-te tràn ngập vũ trụ trong đó dao động sóng điện từ (cũng như sóng nước di chuyển được là vì có nước, sóng âm thanh truyền đi là vì có không khí, vậy chắc phải có một chất liệu gì tạm gọi là ê-te để chuyên chở sóng điện từ, chứ không làm sao chúng truyền đi được?), thứ hai các đo lường ngày càng chính xác về cường độ bức xạ nhiệt của vật đen không phù hợp với công thức Wien. Sau đó Lord Rayleigh và Jeans cải thiện công thức trên được một phần nhưng lại mang nghịch lý là tổng năng lượng phát ra tăng lên vô hạn!
 Hai vấn đề mà Lord Kelvin tuy khá tinh để nhận ra nhưng tưởng là thứ yếu ngờ đâu lại hệ trọng vô chừng. Trong đêm tối mung lung ràng buộc bởi định kiến siêu hình, đó là hai ngôi sao rọi sáng cho vật lý vượt trùng dương khai phá những chân trời mới lạ, vì giải thích nổi việc thứ nhất (ê te) chính là thuyết tương đối hẹp và việc thứ nhì (vật đen) chính là thuyết lượng tử! Rõ ràng trăm năm sau 1905, vật lý hãy còn biết bao câu hỏi từ cơ bản (tương phản giữa lượng tử với tương đối rộng diễn tả qua tai họa chân không, năng lượng và vật chất tối, không gian nhiều chiều...) đến ứng dụng (khoa học công nghệ nanô, thông tin học lượng tử, sản xuất và tiết kiệm năng lượng...) chưa biết trả lời ra sao và đang trông chờ những lời giải đáp bởi các thế hệ trẻ mới lên, trong cảnh hài hòa giữa người với người và với môi trường thiên nhiên.
Einstein's official 1921 portrait after receiving the Nobel Prize in Physics.

Có lẽ chẳng phải ngẫu nhiên mà cuộc hội thảo về ‘’Vật lý hiện đại với văn hóa và phát triển’’ có sự tham gia tích cực của trường Ðại học đang thành lập mang tên Phan Châu Trinh. Nhà sĩ phu có tầm nhìn vượt xa thời đại là người đầu tiên ở nước ta chủ trương dân quyền, chống bạo động, dấy phong trào duy tân ‘’chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh’’. Vì ông thấy dân trí cùng tư duy khoa học của người mình còn quá thấp, nên trước hết cần ‘‘tự lực khai hóa’’ đã, rồi mới từng bước phục hồi chủ quyền quốc gia. Trăm năm nhìn lại, những lời Tây Hồ hằng nhắc nhở như vẫn còn sang sảng đâu đây để chúng ta cùng nhau suy ngẫm.
------------------------------------------------------------------------------------------

Sơ lược vài thuật ngữ        

Lượng tử (quantum): Ðơn vị vật lý nhỏ nhất mà một đại lượng (quantity) nào đó bị phân hoạch thành từng phần riêng lẻ. Thí dụ lượng tử của năng lượng (energy) là đơn vị hν. Vật lý lượng tử diễn tả sự vận hành của thế giới vi mô như nguyên tử, hạt nhân của chúng và các hạt cơ bản như quark, electron, neutrino, photon.

Trường (field) : Môi trường vật chất trong đó các lực (force) truyền đi tác dụng của chúng. Trường được mô tả bởi một hàm số F(x, t) tại mỗi điểm trong không gian x và thời gian t, phản ánh cường độ (intensity) và huớng (direction) của lực tại bất cứ một điểm không-thời gian (space-time) x, t nào đó. Trọng trường (mô tả lực hấp dẫn), điện từ trường (lực điện từ) là hai thí dụ khá quen thuộc.

Photon :  là lượng tử của điện từ trường. Ánh sáng mà ta nhìn thấy chỉ là một dạng của điện từ trường do Maxwell suy tính ra và Hertz minh chứng bằng thực nghiệm.

Lưỡng tính sóng hạt  (wave-particle duality): đặc điểm cơ bản của thế giới vi mô nói rằng các vật đều thể hiện dưới hai tính chất vừa sóng vừa hạt. Photon và electron là hai thí dụ thường xuyên mang lưỡng tính sóng hạt. Sóng được diễn tả bởi tần số (frequency) của sự dao động tuần hoàn (periodic oscillation) trong cả không gian lẫn thời gian. Tính chất sóng của điện từ thì quá quen thuộc từ thế kỷ 17 (Huygens, Young) với hiện tượng giao thoa ánh sáng, còn tính chất hạt photon của điện từ được minh chứng qua hiệu ứng điện quang (photoelectric) bởi Einstein. Giải Nobel Vật lý 1921 tặng thưởng ông vì công trình này, chứ không phải vì lý thuyết tương đối hẹp hay rộng.

Nguyên lý bất định (undetermination principle) : Nguyên lý cơ bản của vật lý lượng tử do Heisenberg phát hiện ra, nói rằng có những đặc trưng của thế giới vi mô theo đó vị  trí và vận tốc (hay đúng ra xung lượng momentum) của hạt chẳng hạn không thể được xác định đồng thời. Những khía cạnh bất định như thế sẽ càng trở nên nghiêm trọng khi các thang khoảng cách và thời gian càng nhỏ. Ðiều này mang tới hiệu quả là thế giới vi mô luôn luôn dao động sôi sục với những thăng giáng lượng tử (quantum fluctuation).

Vô Hướng (scalar):  Trong toán hình học, một vài đối tượng nghiên cứu tiêu biểu là vô hướng (scalar), vec-tơ (vector), ten-sơ (tensor), spin-nơ (spinor). Vật dản dị nhất là vật vô hướng, sau đó là vec-tơ có ba thành phần trong không gian ba chiều (lực trong cơ học thường được diễn tả bằng vec-tơ).

Trung hòa (neutral): không mang điện tích, sắc tích chi cả. Hoặc nếu là tập hợp của nhiều thành phần mang điện hay sắc tích thì chúng triệt tiêu nhau để trung bình tổng hợp vẫn trung hòa.

Spin: khám phá bởi Dirac là một đặc trưng của vật lý lượng tử khi hòa nhịp với thuyết tương đối hẹp. Spin miêu tả việc tự quay vòng của hạt vi mô cơ bản (như trái đất tự quay chung quanh trục bắc nam của nó, nhưng spin không phải hoàn toàn như thế mà tinh tế hơn). Những hạt cơ bản như electron, neutrino, quark có spin bằng  h / 4π = ћ / 2 nghĩa là hạt phải quay hai vòng (tức 4π hay 720 độ) mới quay lại vị trí ban đầu, điều không tưởng trong cơ học cổ điển. Nhũng hạt có spin ћ / 2 được gọi chung là fermion. Những hạt mà spin là một con số nguyên của ћ (như  0ћ, 1ћ, 2ћ) gọi là boson. Dĩ nhiên những gì vô hướng phải không quay và mang spin 0ћ. Những boson với spin 1ћ là:  photon trong tương tác điện từ (điện động lực học lượng tử, quantum electrodynamics, QED), tám gluon trong tương tác mạnh (sắc động lực học lượng tử, quantum chromodynamics, QCD), và ba boson yếu W±, Z trong tương tác yếu (điện-yếu động lực học lượng tử, quantum electroweak, QEW).
Va chạm trực diện của một quark (quả bóng màu đỏ) đến từ một proton (quả bóng màu da cam) với một gluon (quả bóng màu xanh lá cây) đến từ một proton khác với spin quay ngược chiều . Spin được đại diện bởi các mũi tên màu xanh quanh các proton các hạt quark. Các dấu hỏi màu xanh bao quanh các gluon đại diện cho câu hỏi: gluon có phân cực hay không ? Các hạt bắn ra từ vụ va chạm một trận mưa các hạt quark và một photon ánh sáng (bóng màu tím).


Tương đối hẹp (special relativity): đó là lý thuyết cơ học Einstein thay thế cho cơ học Newton cổ điển. Với Newton, không gian và thời gian là những hệ thống quy chiếu tuyệt đối, không chút liên quan với nhau. Theo trực giác thông thường bắt rễ từ cơ học cổ điển, nếu ta đuổi theo ánh sáng với vận tốc  c  của nó, ta sẽ thấy ánh sáng bất động, dùng phép cộng trừ vận tốc theo Galileo. Tuy nhiên theo thuyết điện từ Maxwell, ánh sáng luôn luôn chuyển động với vận tốc  c  cố định trong bất kỳ hệ thống quy chiếu nào (đứng yên hay di chuyển). Không ai có thể nắm chặt ánh sáng trong tay dù chạy theo nó nhanh đến mấy. Sự đối nghịch nói trên giữa cơ học cổ điển với điện từ được Einstein giải thích bằng thuyết tương đối hẹp, mà công thức
E = mc^2  là hậu quả kỳ diệu nhất. 
Theo Einstein, không gian và thời gian chẳng còn là hai thực thể độc lập như con người  thường cảm nhận thô thiển trong đời sống hàng ngày, chúng liên đới quyện sát nhau, thời gian thay đổi tùy theo vị trí  trong không gian và vận tốc của người quan sát, ngược lại cũng vậy với không gian. Cụ thể là đối với người quan sát đứng yên, thời gian dãn nở ra và không gian co cụm lại trên một con tàu di chuyển. Ta không cảm thấy thế chỉ vì chúng ta, hoả tiễn, máy bay đều chuyển động với vận tốc quá nhỏ so với vận tốc c của ánh sáng. Tương đối rộng (general relativity): định luật hấp dẫn theo đó mọi vật hút nhau là do chúng nằm trong một không gian cong xoắn nên rơi vào nhau. Cấu trúc cong xoắn của không gian vũ trụ là do vật chất tạo nên.

* Ðại học Pierre et Marie Curie, Paris, pham@lpthe.jussieu.fr  Bài này trích trong cuốn Einstein, Dấu Ấn Trăm Năm (tuyển tập kỷ yếu hội thảo Hội an 2005, nhiều tác giả, nxb Trẻ,http://www.nxbtre.com.vn) với vài sửa đổi.

* Bài chép mượn nhan đề Hợp âm trong vùng sân khuất, tập truyện ngắn bàng bạc thi tính của nhà vật lý và văn nữ Mai Ninh, nxb Thời mới, Toronto (2000).

*Thực ra có mười hai hạt cơ bản chia ra làm ba họ, mỗi họ bốn hạt. Họ thứ nhì (hai quark c (charm), s (strange) và hai lepton μ, νμ) và họ thứ  ba (hai quark t (top), b (bottom) và hai lepton τ, ντ ) đều có khối lượng lớn, thời gian sống lại vô cùng ngắn ngủi vì bị phân rã bởi tương tác yếu bê-ta (xem phụ chú ngay dưới), thành ra chỉ còn bốn hạt (hai quark u,d và hai lepton: electron, neutrino) bền vững để tạo thành vật chất như ta thấy. Các hiện tượng trong thiên nhiên vận hành qua bốn lực cơ bản, vâng chỉ có bốn thôi, đó là trọng lực, điện từ , tương tác ‘yếu’ chủ trì sự phân rã bê-ta (quark d → quark u + electron + phản hạt neutrino) của các hạt nhân nguyên tử, cội nguồn của sự tổng hợp nhiệt hạch trong Mặt trời, tinh tú ; và sau hết là tương tác ‘mạnh’ (Sắc động lực học lượng tử) của quark u, d  gắn bó chặt chẽ trong proton, neutron làm cho vật chất bền vững. Hai tương tác mạnh và yếu chỉ vận hành trong thế giới vi mô. Hơn nữa hai lực điện từ và yếu có rất nhiều điểm đồng quy nên thực chất chỉ là hai dạng của một tương tác duy nhất gọi là điện-yếu (electro-weak interaction) Lý thuyết chuẩn thống nhất và diễn tả chính xác bản tính của ba tương tác lượng tử  (mạnh, điện-yếu) là một thành công tuyệt vời của vật lý hạt.

*Những véc-tơ như  k, x,… được in đậm, và |k|,|x| là chiều dài của k, x.

*Xem Le Vide, Univers du tout et du rien, Revue de l’Université de Bruxelles, Editions Complexe (1998), với các bài của  R.J. Adler, M. Bitbol, H.B. Casimir, N. Deruelle, E. Gunzig và S. Diner, J.W. van Holden, C. Isham,  M. Lachièze-Rey, P. Marage,  R. Mills,  M. Paty,  I. Prigogine và T. Petrosky, C. Schiller.

*Có cái gì không quá xa lạ với Giáo lý duyên khởi của đạo Phật, với Sắc Không trong Bát nhã tâm kinh ? Xem M. Bitbol trong Le Vide, Univers du tout et du rien đã dẫn, và Trịnh Xuân Thuận trong Science et Bouddhisme : A la croisée des chemins http://chimviet.free.fr Giải Nobel vật lý 2004 tặng thưởng D. Gross, H. Politzer, F. Wilczek đã khám phá ra tính chất  tự do tiệm cận (asymptotic freedom) của sắc động lực học lượng tử. Chi tiết chứng minh đặc tính này có thể tìm thấy ở chương 15 trong sách giáo trình về lý thuyết chuẩn, Elementary particles and their Interactions, Concepts and Phenomena, Hồ Kim Quang và Phạm Xuân Yêm, Springer-Verlag (1998). Xem http://www.lpthe.jussieu.fr/~pham

*Xem Giai điệu dây và bản giao hưởng Vũ trụ, Tia sáng và nxb Trẻ (2003) do Phạm Văn Thiều dịch theo cuốn The Elegant Universe của Brian Greene, Vintage books (1999). Xem bài của H. B. Casimir và một số bài khác của R. J. Adler, S. Diner trong Le Vide, Univers du tout et du rien đã dẫn. Hiệu ứng này được trình bày trong P. W. Miloni, The quantum vacuum, Academic Press (1994). Nhà vật lý Hà lan Casimir sau khi công bố năm 1948 lực mang tên ông đã giữ chức vụ tổng giám đốc nghiên cứu đại tập đoàn công kỹ nghệ quốc tế Philips. Tập hợp nghiên cứu giảng dạy đại học uy tín hàng đầu nước Pháp.   

*Xem Max Planck et les quanta, J. C. Boudenot et G. Cohen-Tannoudji, Ellipses (2001). Vật đen là một lò kín mà thành lò hấp thụ hết các bức xạ. Nung nóng lò lên ở nhiệt độ T và đục một lỗ nhỏ trên thành lò, ta nghiên cứu tính chất của ánh sáng phát ra. Sự phân phối (theo tần số) của cường độ ánh sáng chỉ phụ thuộc vào T thôi chứ không vào bất cứ chất liệu nào ở trong lò, chứng tỏ bức xạ chỉ phụ  thuộc vào sự dao động của các thành phần cơ bản chung cho các chất liệu.

*Trích phần Thử  nhìn lại vị trí của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh trong hành trình dân tộc vào thế kỷ XX, trang 290 trong sách Việt Nam và Nhật Bản giao lưu văn hóa, Vĩnh Sính, nxb Văn Nghệ (2001). Theo  Yoshikawa Yasuhisa thuyết trình trong cuộc Hội thảo về giao lưu văn hóa giữa Pháp với bốn nước Viễn đông (Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam) tại Thư viện quốc gia François Mitterand (2004), người Nhật thời Minh Trị Thiên Hoàng vì ý thức được khoảng cách quá xa về tư duy khoa học của họ so với Âu châu nên mấy cuốn sách được họ chuyển ngữ trước tiên là của Jules Verne về khoa học viễn tưởng, rồi sau mãi mới đến khoa học nhân văn, triết lý, xã hội với Jean-Jacques Rousseau, Victor Hugo, Emile Zola…

© http://vietsciences.free.fr  và http://vietsciences. org  Phạm Xuân Yêm



*******************************************************

 ----------------------------------------------------------------------------------
Chúng ta phải biết và chúng ta sẽ biết .

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

Cám ơn lời bình luận của các bạn .
Tôi sẽ xem và trả lời ngay khi có thể .


I will review and respond to your comments as soon as possible.,
Thank you .

Trần hồng Cơ .
Co.H.Tran
MMPC-VN
cohtran@mail.com
https://plus.google.com/+HongCoTranMMPC-VN/about

*******

Blog Toán Cơ trích đăng các thông tin khoa học tự nhiên của tác giả và nhiều nguồn tham khảo trên Internet .
Blog cũng là nơi chia sẻ các suy nghĩ , ý tưởng về nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau .


Chia xẻ

Bài viết được xem nhiều trong tuần

CÁC BÀI VIẾT MỚI VỀ CHỦ ĐỀ TOÁN HỌC

Danh sách Blog

Thông tin hàng ngày.

Giới thiệu bản thân

Ảnh của Tôi


Các chuyên đề ứng dụng .

1. Phương trình vi phân  
2. Toán đơn giản - College Algebra 
3. Toán thực hành - Practical Mathematics 
4. Vật lý tổng quan ( đang viết )
5. Phương trình tích phân 
( đang chuẩn bị ) 

Gặp Cơ tại Researchgate.net

Co Tran