Giải toán trực tuyến W | A




Vẽ đồ thị trong Oxyz plot3D(f(x,y),x=..,y=..)
Vẽ đồ thị trong Oxy plot(f(x),x=..,y=..)
Đạo hàm derivative(f(x))
Tích phân Integrate(f(x))


Giải toán trực tuyến W|A

MW

Hiển thị các bài đăng có nhãn thư giãn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thư giãn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 13 tháng 12, 2018

10 BỘ T.RUYỆN TIỂU THUYẾT SONG NGỮ ĐÌNH ĐÁM THẾ GIỚI


heart10 BỘ TRUYỆN TIỂU THUYẾT SONG NGỮ ĐÌNH ĐÁM THẾ GIỚI heart

1. Alice In Wonderland

Bộ truyện song ngữ 1
Cuộc phiêu lưu của Alice ở Xứ sở Thần Tiên là cuốn tiểu thuyết dành cho thiếu nhi của tác giả người Anh Lewis Carroll. Câu chuyện kể về cô bé Alice chui qua một hang thỏ rồi lạc vào thế giới thần tiên có những sinh vật kì lạ

2. Pinocchio

Bộ truyện song ngữ 2
Được tạo ra bởi người thợ mộc già Mister Geppetto trong một ngôi làng nhỏ ở Ý, chú rối gỗ Pinocchiotrở thành một cậu bé bằng xương bằng thịt. Cậu thường hay nói dối và bịa ra những câu chuyện vì nhiều lý do khác nhau. Pinocchio là một trong những nhân vật tái hiện nhiều nhất trong kho tàng văn học thiếu nhi.

3. The Da Vinci Code            

Bộ truyện song ngữ 3                        

Mật mã Da Vinci là một tiểu thuyết của nhà văn nổi tiếng người Mỹ Dan Brown. Cốt truyện của tiểu thuyết kể về âm mưu của Giáo hội Công giáo nhằm che dấu sự thật về Chúa Giê-su. Truyện ám chỉ rằng Tòa thánh Roma biết rõ âm mưu này từ 2000 năm qua, nhưng vẫn giấu kín để giữ vững quyền lực của mình.
Sau khi vừa xuất bản, cuốn tiểu thuyết đã khơi dậy mạnh mẽ sự tò mò khắp thế giới đi tìm hiểu sự thật về Sự tích Chén Thánh và vai trò của Mary Magdalene trong lịch sử Giáo hội Công giáo.

4. Pride and prejudice

Bộ truyện song ngữ 4
Kiêu hãnh và định kiến là câu chuyện nói về tình yêu và hôn nhân của tầng lớp quý tộc nhỏ tại Anh vào đầu thế kỷ 19. Nhân vât chính là Elizabeth Bennet, một cô gái 20 tuổi xuất thân trong một gia đình trung lưu. Nội dung chính kể về sự đối đầu và sau này trở thành cuộc tình giữa Elizabeth và Fitzwilliam Darcy, thuộc tầng lớp địa chủ. Tựa truyện nói về sự kiêu hãnh và các định kiến của nhân vật này đối với nhân vật kia.

5. Gone with the wind

Bộ truyện song ngữ 5
Cuốn theo chiều gió là một cuốn tiểu thuyết tình cảm của Margaret Mitchell, người đã dành giải Pulitzer với tác phẩm này năm 1937. Câu chuyện được đặt trong bối cảnh tại Georgia và Atlanta, miền Nam Hoa Kỳ trong suốt thời kì nội chiến và thời tái chiến.
Tác phẩm xoay quanh Scarlett O’Hara, một cô gái miền Nam đầy sức mạnh, phải tìm mọi cách để sống sót qua chiến tranh và vượt lên mọi khó khăn trong thời hậu chiến. Tiểu thuyết đã được chuyển thể thành phim năm 1937.

6. Donquixote

Bộ truyện song ngữ 6
Đôn Ki hô tê được bình chọn là tác phẩm văn học Tây Ban Nha hay nhất mọi thời đại. Câu chuyện theo bước chân của Quixada – một nhà quý tộc nghèo khoảng 50 tuổi, say mê những câu chuyện hoang đường phi lí về các hiệp sĩ đến độ cuồng si. Quixada quyết định trở thành hiệp sĩ lang thang, chu du khắp 4 phương trời để cứu khốn phò nguy, diệt trừ yêu quái và lũ khổng lồ.

7. The great Gatsby

Bộ truyện song ngữ 7
Đại gia Gatsby hay Gatsby vĩ đại là một kiệt tác của nhà văn F.Scott Fitzgerald người Mỹ. Tiểu thuyết này viết về thời kỳ sống của chính tác giả. Sau cú sốc và hỗn loạn của Chiến tranh thế giới lần thứ 1, nước Mỹ bước vào thời kỳ thịnh vượng chưa từng thấy trong những năm 1920 do sự cất cánh của nền kinh tế.
Cũng trong thời gian này, Luật cấm buôn bán và sản xuất rượu được ban hành, làm tăng lên các tội phạm có tổ chức. Mặc dù Fitzgarald, giống nư Nick Carraway trong tác phẩm của mình, tôn sùng sự giàu có, nhưng ông không thấy thoải mái với xã hội coi trọng vật chất quá mức và đạo đức lại không đi cùng với nó.

8. Gone with the wind

Bộ truyện song ngữ 8
Tiếng gọi nơi hoang dã là một tiểu thuyết của nhà văn Mỹ Jack London. Cốt truyện kể về một con chó tên là Buck đã được thuần hóa, cưng chiều. Nhưng 1 loạt các sự kiện xảy ra khi Buck bị bắt khỏi trang trại để trở thành chó kéo xe ở khu vực Alaska lạnh giá, trong giai đoạn mọi người đổ xô đi tìm vàng thế kỷ 19, thiên nhiên nguyên thủy đã đánh thức bản năng của Buck. Buck trở lại cuộc sống hoang dã. Buck trở về rừng, sống chung với lũ sói.

9. Grimm’s fairy tales

Bộ truyện song ngữ 9
Truyện cổ Grimm là tuyển tập tất cả các truyện cổ tích tiếng Đức quen thuộc  như Cô bé quàng khăn đỏ, Bà chúa tuyết, Cô bé lọ lem…. Truyện cổ Grimm được coi là nguồn cảm hứng bất tận cho các nghệ sĩ hoạt động trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật khác nhau như hội họa, âm nhạc, điện ảnh…

10. Harry Potter

Bộ truyện song ngữ 10
Harry Potter là tên của bộ truyện (gồm bảy phần) của nữ nhà văn nước Anh J.K.Rowling. Bộ truyện viết về những cuộc phiêu lưu phù thủy của cậu bé Harry Potter và những người bạn Ronald Weasley, Hermione Granger, lấy bối cảnh tại Trường Phù thủy và Pháp sư Hogwarts nước Anh.
Những cuộc phiêu lưu tập trung vào cuộc chiến của Harry Potter trong việc chống lại tên Chúa tể hắc ám Vlodemort - người có tham vọng muốn trở nên bất tử, thống trị thế giới phù thủy, nô dịch hóa những người phi pháp thuật và tiêu diệt những ai cản đường hắn đặc biệt là Harry Potter. 

 -------------------------------------------------------------------------------------------
 Even in darkness light dawns for the upright, for those who are gracious and compassionate and righteous. Psalm 112:4 

 Mục-đích của sự răn-bảo, ấy là sự yêu-thương, bởi lòng tinh-sạch, lương-tâm tốt và đức-tin thật mà sanh ra. I Ti-mô-thê 1:5




Thứ Hai, 25 tháng 6, 2018

KÝ ỨC - BARBRA STREISAND .



KÝ ỨC -  BARBRA STREISAND 

Kết quả hình ảnh cho memory barbra streisand

Nửa đêm rồi
Từ hè phố vắng lặng
Mặt trăng đã trôi đi ký ức
Nàng vẫn đang mỉm cười một mình
Dưới ánh đèn vàng úa
Những chiếc lá khô nép mình dưới chân tôi
Và gió khuya bắt đầu rên rỉ

Ôi ! Ký ức
Mọi thứ đều cô đơn dưới ánh trăng
Tôi có thể mỉm cười hạnh phúc về những ngày của em
(tôi có thể mơ về những ngày xưa cũ )
Cuộc sống thật đẹp biết bao
Tôi nhớ đến thời gian nếm trải niềm hạnh phúc
Hãy để ký ức sống lại
Mọi ánh đèn đường dường như khuấy động nên
Một cảnh báo định mệnh
Ai đó đang lẩm bẩm một mình ,
ánh đèn đường đổ dài đơn độc 
Và sẽ đến thời khắc của bình minh

Ánh sáng ngày lấp lánh
Tôi vẫn phải chờ đợi ánh bình minh
Vẫn phải nghĩ về một cuộc sống mới
Và tôi không được quyền từ bỏ tình yêu ấy
Khi ánh bình minh vừa đến
Tối nay rồi cũng sẽ là một kỷ niệm
Và một ngày mới sẽ lại bắt đầu

Đốt cháy hết đi những ngày mờ ám khói
Mùi vị lạnh buốt của ban mai
Một ánh đèn đường vụt tắt ,
Lại một đêm nữa cũng mới vừa kết thúc
Một ngày khác lại bắt đầu hé rạng
Hãy chạm khẽ vào tôi,
Thật dễ dàng bỏ tôi lại một mình
Tất cả cô đơn với nỗi niềm ký ức
Trong những ngày của tôi còn dưới ánh mặt trời .

Nhưng nếu như em khẽ chạm vào tôi,
Em sẽ hiểu thế nào là niềm hạnh phúc
Nhìn kìa em , ngày mới đã bắt đầu ...








=====================================

MEMORY

Midnight
Not a sound from the pavement
Has the moon lost her memory
She is smiling alone
In the lamplight
The withered leaves collect at my feet
And the wind begins to moan
Memory
All alone in the moonlight
I can smile happy your days ( I can dream of the old days)
Life was beautiful then
I remember the time I knew what happiness was
Let the memory live again
Every street lamp seems to beat
A fatalistic warning
Someone mutters and the street lamp gutters
And soon it will be morning
Daylight
I must wait for the sunrise
I must think of a new life
And I mustnt give in
When the dawn comes
Tonight will be a memory too
And a new day will begin

Burnt out ends of smoky days
The still cold smell of morning
A street lamp dies ,another night is over
Another day is dawning
Touch me,
It is so easy to leave me
All alone with the memory
Of my days in the sun
If you touch me,
Youll understand what happiness is
Look, a new day has begun...

Kết quả hình ảnh cho memory barbra streisand


====================================

VÀI NÉT VỀ NHẠC PHẨM MEMORY - BARBRA STREISAND


Memories là một album được phát hành bởi Barbra Streisand vào năm 1981. Nó chủ yếu là một bộ sưu tập các tác phẩm đã được phát hành trước đó, nhưng bao gồm ba bài hát mới được thu âm. Album được RIAA chứng nhận 5 × Bạch kim , vươn tới vị trí thứ 10 trên bảng xếp hạng album của Mỹ. Lần đầu tiên Memory được phát hành trên Columbia, sau đó được phát hành lại dưới dấu ghi CBS năm 1981 với bốn bài hát được bổ sung. Tại Anh, nơi nhạc phẩm này được phát hành như Love Songs, đã vươn tới vị trí số 1 trên bảng xếp hạng album trong chín tuần liên tiếp và trở thành album bán chạy nhất năm 1982 tại Anh, đây cũng là album đầu tiên của nữ ca sĩ đạt được danh hiệu cao quý .  Album Memory được chứng nhận bạch kim ở Anh (trước khi được trao giải thưởng đa bạch kim), và 6 x bạch kim ở Úc. Theo ghi chú của phiên bản hồi tưởng của Barbra: Chỉ dành cho Record, album này cũng nhận được chứng nhận kỷ lục ở Hòa Lan và Thụy Sĩ  . Ba nhạc phẩm chưa được phát hành trước đó, 'Memory', 'Comin 'In and Out of Your Life', và 'Lost Inside of You' đã xuất hiện trong album. 'Comin' In and Out of Your Life 'là thành công nhất trong các single mới, đạt đỉnh điểm ở vị trí thứ 11 trên Billboard Hot 100 tại Mỹ.

Album Memory cũng đã giành được giải Album bán chạy nhất tại Lễ trao giải Brit năm 1983.



Kết quả hình ảnh cho memory barbra streisand



Nguồn  https://en.wikipedia.org/wiki/Memories_(Barbra_Streisand_album)



====================================

Tiểu sử  BARBRA  STREISAND 


Kết quả hình ảnh cho barbra streisand


Barbra Joan Streisand (sinh ngày 24 tháng 4 năm 1942) là một nhà sáng tác nhạc, nữ diễn viên điện ảnh, kịch và ca sĩ Mỹ, đồng thời cũng là nhà hoạt động chính trị cấp tiến, nhà sản xuất phim và nhà đạo diễn phim. Bà đã giành được giải thưởng Oscar cho danh hiệu Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất và Bài hát hay nhất trong phim cũng như các giải Emmy, Grammy, Quả Cầu Vàng. Streisand đã được xếp vào hàng nghệ sĩ nữ có album bán chạy nhất mọi thời đại ở Hoa Kỳ trong vòng hơn 30 năm, theo RIAA. Bà được xem như một trong những nghệ sĩ biểu diễn nữ thành công nhất trong lịch sử ngành giải trí hiện đại và là nữ ca sĩ bán được nhiều album nhất trong lịch sử âm nhạc Mỹ, được RIAA xác nhận là hơn 71 triệu đĩa ghi âm. Tính kiên định lạ thường và sự nổi tiếng được giữ vững đã tiếp tục giữ được sự nổi tiếng của bà trước công chúng trong 47 năm trong nghề âm nhạc điện ảnh.



Thời niên thiếu

Streisand được sinh ra với tên gọi 'Barbara Joan Streisand ở Williamsburg, Brooklyn, Thành phố New York trong một gia đình bố mẹ là người Mỹ gốc Do Thái. Cha của Barbra là một giáo viên tại một trường trung học và đã qua đời lúc cô bé mới 15 tuổi; cô bé đã có một mối quan hệ cơm không lành canh không ngọt với dượng ghẻ Louis Kind. Cô có một em gái tên là Roslyn Kind cũng là một nghệ sĩ biểu diễn. Mẹ cô, Diana Ida Rosen, một thư ký tại trường phổ thông, đã không khuyến khích con gái mình theo đuổi nghề biểu diễn, cho rằng Barbara không đủ sức hấp dẫn. Cô đã được học tại Erasmus Hall High School, nơi cô tốt nghiệp hạng thứ 4 trong lớp học của cô năm 1959, và nơi cô hát ở trong giàn đồng ca của trường với Neil Diamond. Ở đây cô cũng làm bạn với Bobby Fisher, người sau này là Vua Cờ Bobby Fischer. Cô đã không bao giờ học đại học. Streisand đã từng nói rằng: "Tôi ghét nó (Brooklyn, New York) khi tôi lớn lên, nhưng bây giờ tôi nhận ra rằng tôi đã lấy được sức mạnh từ gốc rễ của mình." (17 tháng 10 năm 2006; hòa nhạc ở Toronto).

Sự nghiệp truyền hình, sân khấu và ca hát

Sau một cuộc thi ca nhạc, Streisand đã trở thành một ca sĩ hộp đêm khi cô còn tuổi teen. Ban đầu cô muốn trở thành một diễn viên xuất hiện ở một số tác phẩm điện ảnh ở Off-Off-Broadway, bao gồm với tác phẩm với nữ nghệ sĩ đang được ngưỡng mộ lúc đó là Joan Rivers, nhưng khi bạn trai cô là Barry Dennen đã giúp cô có một buổi biểu diễn tại hộp đêm; lần đầu biểu diễn ở một quán bar dân đồng tính nam ở Greenwich Village của Manhattan năm 1960 — cô đã giành được thành công như một ca sĩ. Vào lúc này, cô đã rút gọn tên mình thành Barbra để khiến nó dễ phân biệt hơn. Năm 1961 Streisand đã ký một hợp đồng với Winnipeg, nhà hàng "Town and Country" của Manitoba . Các cuộc biểu diễn của cô đã nhận được critical approval, nhưng người chủ nhà hàng đã không đủ hiểu biết để hiểu được cái hay của âm những trình diễn bởi Barbra.

Năm 1962 Streisand lần đầu xuất hiện ở Broadway, trong một vai nhỏ nhưng lại tạo nên danh tiếng trong vở nhạc kịch I Can Get It for You Wholesale (1962). Cô cũng đã ký hợp đồng ghi âm đầu tiên năm đó với hãng Columbia Records. Album đầu tiên của cô, The Barbra Streisand Album, đã giành được hai Giải Grammy năm 1963. Sự thành công âm nhạc của cô tiếp tục, và có lục, 3 album đầu tiên của Streisand đã đồng thời xuất hiện ở top 10 Album pop Billboard - một thành công bất thường vì lúc đó nhạc rock and roll và ban nhạc The Beatles chiếm lĩnh bảng xếp hạng này.



Các cuộc biểu diễn ở Broadway

Năm Tên Ghi chú
1961-1963 I Can Get It for You Wholesale Tony đề cử giải Best Performance by a Featured Actress in a Musical
1964-1965 Funny Girl Tony đề cử Best Leading Actress in a Musical


Các chương trình truyền hình đặc biệt

Năm Tên Ghi chú
1965 My Name Is Barbra
1966 Color Me Barbra
1967 The Belle of 14th Street
1968 A Happening in Central Park quay ngày 17 tháng 6 năm 1967
1973 Barbra Streisand... and Other Musical Instruments
1975 Funny Girl to Funny Lady
1976 Barbra: With One More Look at You
1983 A Film Is Born: The Making of 'Yentl'
1986 Putting it Together: The Making of The Broadway Album
1987 One Voice
1994 Barbra Streisand: The Concert Đồng sản xuất
2000 Barbra Streisand: Timeless


Danh sách các phim tham gia

Năm Tên Vai Ghi chú
1968 Funny Girl Fanny Brice
1969 Hello, Dolly! Dolly Levi
1970 On a Clear Day You Can See Forever Daisy Gamble / Melinda Tentrees
1970 The Owl and the Pussycat Doris Wilgus/Wadsworth/Wellington/Waverly
1972 What's Up, Doc? Judy Maxwell
1972 Up the Sandbox Margaret Reynolds
1973 The Way We Were Katie Morosky
1974 For Pete's Sake (phim) Henrietta 'Henry' Robbins
1975 Funny Lady Fanny Brice
1976 A Star Is Born Esther Hoffman Howard Nhà sản xuất
1979 The Main Event Hillary Kramer Nhà sản xuất
1981 All Night Long Cheryl Gibbons
1983 Yentl Yentl/Anshel Nhà sản xuất, đạo diễn, kịch bản
1987 Nuts Claudia Faith Draper Nhà sản xuất
1991 The Prince of Tides Dr. Susan Lowenstein Nhà sản xuất, đạo diễn
1996 The Mirror Has Two Faces Rose Morgan Nhà sản xuất, đạo diễn
2004 Meet the Fockers Roz Focker



Giải thưởng

Năm Giải thưởng Hạng mục Tác phẩm Kết quả Chú thích
1964 Grammy Nữ ca sĩ trình diễn pop xuất sắt nhất The Barbra Streisand Album Đoạt giải
Album của năm Đoạt giải
1965 Grammy Nữ ca sĩ trình diễn pop xuất sắt nhất People Đoạt giải
Giọng nữ pop xuất sắc nhất Đoạt giải
1966 Grammy Nữ ca sĩ trình diễn pop xuất sắt nhất My Name Is Barbra Đoạt giải
1968 Oscar Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Funny Girl Đoạt giải
1969 Quả Cầu Vàng Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất trong phim nhạc hoặc kịch Funny Girl Đoạt giải
1977 Quả Cầu Vàng Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất trong phim nhạc hoặc kịch A Star Is Born Đoạt giải
Grammy Giọng nữ Pop xuất sắc nhất Love Theme From A Star Is Born Đoạt giải
1978 Grammy bài hát của năm Evergreen Đoạt giải
1981 Grammy nhóm nhạc trình diễn giọng Pop xuất sắc nhất Guilty Đoạt giải
1984 Quả Cầu Vàng đạo diễn xuất sắc nhất Yentl Đoạt giải
1987 Grammy Giọng nữ Pop xuất sắc nhất The Broadway Album Đoạt giải
1995 Emmy màn trình diễn cá nhân trong nhiều chương trình đa dạng hoặc chương trình ca nhạc Barbra Streisand: The Concert Đoạt giải
Grammy thành tựu trọn đời Đoạt giải
2000 Cecil B. DeMille Đoạt giải
2001 AFI thành tựu trọn đời Đoạt giải
Emmy màn trình diễn cá nhân trong nhiều chương trình đa dạng hoặc chương trình ca nhạc Barbra Streisand: Timeless Đoạt giải





Nguồn
https://vi.wikipedia.org/wiki/Barbra_Streisand
http://www.barbrastreisand.com/
https://www.instagram.com/barbrastreisand/
https://www.facebook.com/barbrastreisand/



Barbra Streisand nghệ sĩ vĩ đại của thế kỷ




Barbra Streisand nổi tiếng là một nghệ sĩ đa tài. Đó là một nhà sáng tác nhạc, một ca sĩ, nữ diễn viên điện ảnh, nhà sản xuất phim và đạo diễn phim xuất sắc.
Người phụ nữ chơi cờ vua hay nhất mọi thời đại
Audrey Hepburn - biểu tượng bất tử
Viên kim cương của điện ảnh Pháp
Barbra Streisand có tên khai sinh là Barbara Joan Streisand, sinh ngày 24/4/1942 ở Williamsburg, Brooklyn, thành phố New York (Mỹ) trong một gia đình bố mẹ là người Mỹ gốc Do Thái.

Cha của Barbra là giáo viên tại một trường trung học, qua đời lúc cô bé mới 15 tuổi. Mẹ cô, bà Diana Ida Rosen, một thư ký tại trường phổ thông, cho rằng Barbara không đủ sức hấp dẫn nên không khuyến khích con gái mình theo đuổi nghề ca hát.

Streisand theo học phổ thông tại trường Erasmus Hall High School, tại đây cô tham gia trong dàn đồng ca của trường. Sau khi tốt nghiệp phổ thông xếp hạng thứ 4 trong lớp vào năm 1959, cô không học lên đại học.

1.jpg
 Chân dung nghệ sĩ Barbra Streisand


Sau một cuộc thi ca nhạc, Streisand trở thành ca sĩ hộp đêm khi đang là tuổi teen. Năm 1960, lần đầu biểu diễn tại một quán bar ở Greenwich Village của Manhattan, cô đã thành công như một ca sỹ có tài. Vào lúc này, cô đã rút gọn tên mình thành Barbra để dễ phân biệt hơn.

Barbra Streisand nhờ tài năng thiên phú và chất giọng cao vút đã giành được nhiều vai trong các bộ phim nổi tiếng và hợp đồng thu đĩa trị giá hàng triệu đô la. Năm 1962, Barbra lần đầu xuất hiện ở sân khấu Broadway trong một vai diễn nhỏ của vở nhạc kịch I Can Get It for You Wholesale nhưng đã tạo được tiếng vang. Cô cũng ký hợp đồng ghi âm đầu tiên năm đó với hãng Columbia Records. Album đầu tiên của cô có tên là The Barbra Streisand Album đã giành được 2 giải Grammy năm 1963. Tiếp tục hành công trong sự nghiệp âm nhạc, 3 album đầu tiên của Streisand đồng thời xuất hiện ở top 10 album nhạc Pop trên bảng xếp hạng Billboard. Đây là một thành công đột phá vì lúc đó nhạc Rock and Roll và ban nhạc The Beatles đang chiếm lĩnh bảng xếp hạng này.

Bằng một chất giọng khỏe khoắn và cao vút lạ thường, những bài hát do cô trình bày đều mang đậm dấu ấn phong cách Barbra.

Trong suốt những năm 70 của thế kỷ trước, tên tuổi của cô luôn thống trị các bảng xếp hạng nhạc Pop với những bài hát The way we were, Evergreen, No more tears, Woman in love... Vào cuối thập niên này, Barbra được đánh giá là nữ ca sĩ xuất sắc nhất tại Mỹ, với số lượng album bán ra chỉ xếp sau vua nhạc Rock Elvis Presley và nhóm danh ca Beatles huyền thoại.

Barbra Streisand cũng là nữ nghệ sĩ có album bán chạy nhất mọi thời đại trong vòng hơn 30 năm, được RIAA (Recording Industry Association of America – Hiệp hội công nghiệp ghi âm Mỹ) xác nhận hơn 71 triệu đĩa ghi âm. Tính đến nay, Barbra đã có 50 đĩa vàng, 30 đĩa bạch kim và 13 album bạch kim.

4.jpg
 Barbra được xem như một trong những nữ nghệ sĩ biểu diễn thành công nhất trong lịch sử ngành giải trí hiện đại và là nữ ca sĩ bán được nhiều album nhất trong lịch sử âm nhạc Mỹ.


Đầu những năm 1980, người Việt biết đến Barbra Streisand nhờ tình khúc Woman in Love hát chung với ban nhạc The Beegees. Woman in Love là bài hát thành công nhất trong sự nghiệp âm nhạc của Barbra, giữ vị trí số 1 trong ba tuần liên tiếp của bảng xếp hạng Billboard. Woman in Love xuất hiện ở Sài Gòn và đã làm say mê mọi tầng lớp trong xã hội, đi đến quán cà phê nhạc nào, người ta cũng nghe thấy tiếng hát của Barbra.

Tháng 9/1993, Barbra đã thực hiện live show sau hơn 10 năm vắng bóng trên thị trường âm nhạc để chuyển sang lĩnh vực điện ảnh. Toàn bộ vé bán hết chỉ trong vòng chưa đầy một giờ đồng hồ. Mức giá lên đến 1.500 USD/vé đã đưa Barbra lên vị trí ca sĩ đắt giá nhất trong lịch sử. Tạp chí Time gọi chương trình này là “sự kiện âm nhạc thế kỷ”.

Bên cạnh ca hát, tài năng diễn xuất của Barbra cũng được thể hiện trong bộ phim âm nhạc cổ điển Hello Dolly năm 1969, đem về cho ngôi sao 27 tuổi này đề cử giải thưởng Quả cầu vàng.

Bộ phim Yentl (1983) do Barbra vừa sản xuất, đạo diễn, viết kịch bản và đảm trách một vai cũng đã nhận được 5 đề cử Oscar và được đạo diễn Steven Spielberg đánh giá là một tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao. Bộ phim đã mang về cho Barbra giải thưởng Quả cầu vàng dành cho đạo diễn xuất sắc nhất năm 1984.

Cuộc đời nghệ thuật của Barbra trải dài trên 4 bốn thập niên với hơn 60 album và phim mang lại nhiều giải thưởng lớn: 2 giải Oscar dành cho nữ diễn viên xuất sắc nhất (phim Funny Girl năm 1968) và sáng tác nhạc hay nhất (bài hát Evergreen trong phim A star is born năm 1976); 8 giải Grammy -  giải thưởng âm nhạc cao quí nhất của nước Mỹ; 5 giải Emmy; 8 giải điện ảnh Golden Globe; 3 giải People Choice Awards và nhiều giải truyền hình khác.

Bước sang độ tuổi lục tuần, người ca sĩ huyền thoại này vẫn tiếp tục hát với tất cả xúc cảm nghệ thuật của mình và làm say mê biết bao người yêu âm nhạc khắp thế giới. Buổi diễn đầu tiên của bà ở Anh ngày 18/7/2007, vé đã bán sạch ngay sau 20 phút dù giá cho một ghế hạng tốt nhất lên đến 600 bảng. Đây là buổi diễn nằm trong chuyến lưu diễn châu Âu của bà, qua Paris, Vienna, Nice và Dublin. Tiền bán vé sẽ được chuyển vào Quỹ Streisand, hỗ trợ các hoạt động bảo vệ môi trường, nhân quyền và trẻ em bất hạnh.


3.jpg
Nổi danh từ những năm 60 của thế kỷ trước, Barbra Streisand đến nay vẫn tạo cho mình được một vị thế vững chắc trong lòng công chúng của thế kỷ XXI.


Đóng góp to lớn của bà không chỉ cho ngành âm nhạc và điện ảnh của nước Mỹ mà Barbra Streisand còn vinh dự là người đầu tiên đón nhận huân chương Bắc Đẩu bội tinh do đích thân Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy trao tặng.

Bắc đẩu bội tinh là huân chương cao quý của Nhà nước Pháp dành cho những cá nhân có đóng góp nổi bật cho nền văn hóa nghệ thuật của nhân loại nói chung và của nước Pháp nói riêng.

Với những thành tựu đã đạt được trong sự nghiệp ca nhạc, điện ảnh của mình, Barbra Streisand xứng đáng được vinh danh như là một nghệ sĩ vĩ đại của thế kỷ.


Nguồn
http://phunuvietnam.vn/barbra-streisand-nghe-si-vi-dai-cua-the-ky-post14635.html


Tiếng hát muôn thuở của nữ ca sĩ Barbara Streisand
14/01/2010



Trong chương trình Nhạc Mỹ chọn lọc hôm nay, mời quí thính giả thưởng thức tiếng hát muôn thuở của nữ ca sĩ Barbra Streisand.

Barbra Streisand được xem là một trong những cây cổ thụ trong nền âm nhạc Hoa kỳ. Dù đã nổi tiếng thế giới từ thập niên 1960 nhưng mãi đến đầu năm 1980, người Việt trong nước mới biết đến Barbra Streisand nhờ tình khúc “Woman In Love” hát chung với ban nhạc The Beegees. Không chỉ nổi tiếng qua âm nhạc, Barbra Streisand còn là một tài tử lừng danh, như cuốn phim âm nhạc cổ điển “Hello Dolly” và gần mới đây xuất hiện trong cuốn phim hài hước “Meet the Fockers” năm 2005. Cuộc đời nghệ thuật của Barbra Streisand trải dài qua hơn 4 thập niên, từ những năm đầu của 1960 đến hôm nay với 60 đĩa hát và phim ảnh. Đóng góp của bà cho ngành âm nhạc và điện ảnh của nước Mỹ vô cùng to lớn và dù ở tuổi 63, bà vẫn không dừng chân. Một trong những tác phẩm âm nhạc gần gũi nhất với người Việt Nam trong nước là vào đầu thập niên 1980 khi nhạc phẩm Woman in Love xuất hiện ở Sài gòn và đã làm say mê mọi tầng lớp trong xã hội, đi đến quán cà phê nhạc nào, người ta cũng nghe thấy tiếng hát của Barbra Streisand.

WOMAN IN LOVE

Cuộc đời âm nhạc và điện ảnh của Barbra Streisand đã mang lại cho bà 2 giải Oscar, 5 giải Grammy tức là giải âm nhạc cao quí nhất của nước Mỹ, 8 giải điện ảnh Golden Globe, 3 giải People Choice Awards và nhiều giải truyền hình khác, chưa kể đến số thu từ những đĩa nhạc vàng. Sinh trưởng từ thành phố Brooklyn ở New York, là một người gốc Do thái di cư sang Hoa kỳ, Barbra Streisand nhờ tài năng thiên phú và chất giọng cao vút đã giúp bà dành được nhiều vai trong các cuốn phim nổi tiếng và hợp đồng thu đĩa trị giá nhiều triệu mỹ kim, ngay khi chập chững bước vào nghiệp ca hát và điện ảnh. Ngoài giọng hát, Barbra Streisand còn là một nhà đạo diễn tài ba với cuốn phim Yentil. Bà cũng là người tranh đấu thường xuyên cho những nỗ lực kêu gọi thế giới nhìn nhận những sự thống khổ trong nạn diệt chủng người Do thái. Cùng với người bạn thân là nam danh ca Neil Diamond, cả hai đã thu âm nhạc phẩm “You Don’t Bring Me Flowers” và trở thành bài hát được yêu chuộng nhất tại Hoa kỳ và trên thế giới cuối thập niên 1970.





YOU DON’T BRING ME FLOWERS

Nhạc phẩm You Don’t Bring Me Flowers, “Anh không còn mang hoa tặng em nữa” với hai tiếng hát Barbra Streisand và Neil Diamong. Vào đầu thập niên 1980, Barbra Streisand được đưa vào danh sách giọng ca nữ thành công nhất trong lịch sử âm nhạc Hoa Kỳ, những đĩa hát do bà thu âm chỉ bán sau Elvis Presley và The Beatles. Năm 1982, nhà bình luận âm nhạc Hoa Kỳ Stephen Holden ghi nhận Streisand là tiếng hát tạo ảnh hưởng mạnh nhất trong nền âm nhạc thời đại chỉ sau Frank Sinatra. Cuộc đời âm nhạc của Barbra Streisand bước vào một ngã rẽ quan trọng khi vào cuối thập niên 1970, bà được ban nhạc The Beegees mời thu âm đĩa hát mang tên “Guilty” hay Tội Lỗi, đĩa hát được xem là bán chạy nhất ở Hoa kỳ và trên thế giới. Hầu hết những bài hát trong đĩa Guilty đều hay nhưng người ta nhớ nhất vẫn là nhạc phẩm “Woman In Love”, bên cạnh còn có tình khúc mang tên “What kind of Fools”, nói lên tâm trạng của hai người tình chỉ vì một giây phút bồng bột bất chợt nào đó đã làm mất tình yêu. Mời quí thính giả nghe nhạc phẩm What Kind Of Fool với hai tiếng hát của Barbra Streisand và nhạc sĩ Barry Gibbs của ban nhạc the Beegees.





WHAT KIND OF FOOL

Nhạc phẩm “What Kind of Fool” tạm dịch là “Thật là sự khờ dại” với hai tiếng hát Barbra Streisand và Barry Gibbs của ban nhạc The Beegees trích từ đĩa “Guilty”. Barbra Streisand thu âm 60 đĩa hát kể từ khi bước vào nghiệp âm nhạc đến nay và hầu hết những đĩa hát này bán rất chạy. Với kỹ thuật điêu luyện, giọng hát mềm mại truyền cảm, nên mọi tầng lớp trong xã hội đều có thể dễ dàng chấp nhận tiếng hát của Barbra Streisand. Trong lịch sử âm nhạc của Hoa kỳ, có thể nói chưa một nữ ca sĩ nào đạt được sự thành công như của Barbra Streisand. Bà có số đĩa thu cao nhất và cùng lúc hoạt động trong ngành điện ảnh. Với chất giọng độc đáo, Barbra Streisand đã biết sử dụng giọng hát của mình làm bàn đạp sang các lãnh vực khác, nhất là đối với khả năng giao tiếp của bà ở Hollywood. Dù hoạt động âm nhạc có phần nào bị gián đoạn khi nền âm nhạc Hoa kỳ bị lấn áp bởi các thể loại Rock and Roll, Barbra Streisand không để bị ảnh hưởng và dành thì giờ cho điện ảnh, nhưng tiếng hát của bà tiếp tục chinh phục thính giả trung niên ở Hoa kỳ và trên thế giới cho đến hôm nay. Vào cuối năm 2004, Barbra Streisand tung ra đĩa hát “Guilty Pleasure” tạm dịch là “Khoái Lạc Tội Lỗi” cũng với chất giọng cổ điển nhưng với phần hòa âm mới, đĩa hát được xếp vào hàng đĩa vàng, đứng hạng 5 ở Hoa Kỳ và hạng 3 ở Anh Quốc. Người ta thấy bà đặt tên cho đĩa hát là “Guilty Pleasure” cho thấy dư âm của đĩa hát “Guilty” hát với ban nhạc the Beegees trước đây, đã có sự ảnh hưởng lớn trong cuộc đời âm nhạc của Barbra Streisand. Mời quí thính giả thưởng thức nhạc phẩm “I’ve Dreamed of You” Mơ Về Anh bài hát đầu tiên trong đĩa hát mới nhất của Barbra Streisand “Guilty Pleasure”.




I’VE DREAMED OF YOU

Nhạc phẩm I’ve Dreamed of you, Mơ Về Anh với tiếng hát Barbra Streisand trích từ đĩa hát mới nhất mang tên Guilty Pleasure, nhạc phẩm này đã kết thúc chương trình “Nhạc Mỹ Tuyển Chọn” của đài Tiếng Nói Hoa Kỳ do Hoàng Trọng Thụy biên soạn và thực hiện, cảm ơn sự theo dõi của quí thính giả và xin hẹn lại vào chương trình kỳ sau.




Nguồn
https://www.voatiengviet.com/a/a-19-2006-06-26-voa16-81471707/481817.html




Quỹ Streisand 

Mỗi năm, Quỹ Streisand góp phần vào nhiều mục đích với nguyên nhân khác nhau.

Quỹ rất hân hạnh được hỗ trợ nhiều tổ chức từ thiện. Tuy nhiên, do có sự quan tâm to lớn như vậy , nên việc tài trợ của Quỹ chỉ thực hiện bằng lời mời tham dự . Chúng tôi luôn quan tâm đến việc tìm hiểu các chương trình phi lợi nhuận mới, các chương trình có ý nghĩa xuất sắc. Mặc dù chúng tôi không thể đảm bảo rằng chúng tôi sẽ mời các bạn gửi đến những đề xuất , ý kiến đóng góp , các tổ chức và cá nhân có thể liên hệ với chúng tôi theo địa chỉ bên dưới.

Địa chỉ mới của Streisand Foundation là:
1327 Ocean Ave
Suite H
Santa Monica, CA 90401

Đây là một vài trong số các tổ chức mà chúng tôi hiện đang hỗ trợ:

Union of Concerned Scientists
Brennan Center for Justice
Planned Parenthood Federation của

IAVA
Mother Jones
Advancement Project


Liên minh các khoa học gia (USC)

UCS đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu sự vượt mức khí phát thải và tiêu chuẩn sử dụng nhiên liệu hiệu quả  nhằm mục đích giảm một nửa lượng khí thải nóng lên toàn cầu của các loại xe ô tô đời mới và xe tải nhẹ vào năm 2025. Bằng kết quả của nhiều năm phân tích và vận động, những giúp đỡ của UCS  giành được sự bảo vệ quốc tế đối với rừng nhiệt đới sẽ hạn chế được ít nhất 300 triệu tấn khí thải  toàn cầu vào khí quyển mỗi năm, đó là một trong số nhiều thành công rất đáng kể khác. Bằng cách huy động các nhà khoa học và kết hợp tiếng nói của họ với những người ủng hộ, giáo dục, doanh nhân và những công dân có liên quan khác, UCS đã xây dựng danh tiếng về sự công bằng và chính xác và tích lũy một lịch sử ấn tượng về thành tựu.

Trung tâm Tư pháp Brennan (BCJ)

Trung tâm Brennan tại Trường Luật NYU là một viện nghiên cứu luật và chính sách phi chính phủ tìm cách cải thiện hệ thống dân chủ và công lý của quốc gia Hoa Kỳ . BCJ  hoạt động để tổ chức các thể chế chính trị và luật pháp phải chịu trách nhiệm trước những lý tưởng về dân chủ của cả hai đối tượng : nước Mỹ và sự công bằng cho tất cả mọi người. Công việc của Trung tâm bao gồm từ quyền biểu quyết đối với chiến dịch cải cách tài chính , từ công lý chủng tộc trong luật hình sự đến bảo vệ Hiến pháp trong cuộc chiến chống khủng bố. Đây vừa là một viện tư duy chiến lược , một công ty luật nhằm lợi ích cộng đồng , vừa là một nhóm vận động bộ phận và trung tâm truyền thông - Trung tâm Brennan luôn tìm kiếm sự thay đổi có ý nghĩa, có thể đo lường được các chính sách trong các hệ thống mà quốc gia Hoa Kỳ quản lý.

Quỹ sức khỏe gia đình  Planned Parenthood Federation of America 

Qũy sức khỏe Planned Parenthood được xem như là nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và tình dục hàng đầu của quốc gia Hoa Kỳ , đồng thời ủng hộ hàng triệu phụ nữ, nam giới và thanh thiếu niên trên toàn thế giới. Trong gần 100 năm, Planned Parenthood đã thúc đẩy một cách tiếp cận chung về sức khỏe và hạnh phúc của phụ nữ, dựa trên sự tôn trọng quyền của từng cá nhân để đưa ra quyết định độc lập, thông tin về sức khỏe, giới tính và kế hoạch hóa gia đình. 68 chi nhánh độc lập, được quản lý tại địa phương trên toàn quốc hoạt động trên 700 trung tâm y tế, phản ánh nhu cầu đa dạng của cộng đồng của họ. Các trung tâm y tế này cung cấp một loạt các dịch vụ chăm sóc sức khỏe an toàn và đáng tin cậy - và hơn 90% là phòng ngừa, chăm sóc chính, giúp ngăn ngừa việc có thai ngoài ý muốn thông qua biện pháp tránh thai, giảm lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục. các bệnh ung thư khác. Qũy sức khỏe Planned Parenthood cũng là một người ủng hộ các chính sách cho phép người Mỹ tiếp cận chăm sóc sức khỏe sinh sản toàn diện và tình dục, giáo dục và thông tin.

Quỹ cựu chiến binh  (IAVA)

Được thành lập năm 2004 bởi một cựu chiến binh Iraq, Iraq và Afghanistan Cựu chiến binh Mỹ (IAVA) là tổ chức đầu tiên và lớn nhất cho các cựu chiến binh và gia đình của họ, với gần 300.000 thành viên và những người ủng hộ trên toàn quốc. IAVA là một tổ chức cựu chiến binh thế kỷ 21, đã dành riêng cho 2,6 triệu cựu chiến binh Iraq và Afghanistan . Quỹ IAVA đã xây dựng ngôi nhà chung đầu tiên nhằm tri àn các cựu chiến binh và đáp ứng các nhu cầu trong suốt phần đời còn lại của họ . IAVA nỗ lực xây dựng một thế hệ cựu chiến binh được trao quyền cho những người lãnh đạo bền vững cho đất nước Hoa Kỳ và cộng đồng địa phương của họ.

Tổ chức Mother Jones (MJ)

Mother Jones là một tổ chức tin tức phi lợi nhuận chuyên về báo cáo tư pháp, chính trị và xã hội. MJ hiện có hai 'nền tảng' chính: một tạp chí quốc gia hai tháng một lần được trao giải thưởng (lưu hành 240.000 bản) và một trang web có tính năng báo cáo mới, nguyên bản 24-7. (Trong quá khứ, MJ đã từng có một chương trình phát thanh và các chương trình truyền hình đặc biệt; các công viên chủ đề mới đang ở giai đoạn khái niệm.) ‘Tại sao bạn nên đọc hoặc ủng hộ chúng tôi? Bởi vì 'nền báo chí thông minh, không sợ hãi'  sẽ giúp mọi người hiểu được rằng  - 'thông tin' là không thể thiếu đối với một nền dân chủ đang thực sự hoạt động. '

Dự án cao cấp  Advancement Project  (AP)

Dự án Advancement Project kỹ sư hệ thống có quy mô lớn luôn thay đổi nhằm khắc phục sự bất bình đẳng, mở rộng cơ hội và mở đường dẫn cho sự tiến bộ . Mục tiêu của AP là các thành viên của tất cả các cộng đồng đều có sự an toàn, cơ hội và sức khỏe mà họ cần để phát triển. Dự án tiến bộ AP hoạt động trong các lĩnh vực:
Vốn chủ sở hữu giáo dục
Vốn cổ phần trong quỹ công chúng
Thành phố lành mạnh
Hòa bình đô thị.

Nguồn
http://www.barbrastreisand.com/streisand-foundation/




------------------------------------------------------------------------------------------- 

Chớ khoe-khoang về ngày mai; Vì con chẳng biết ngày mai sẽ sanh ra điều gì. Hãy để cho kẻ khác khen-ngợi con, miệng con chẳng nên làm; Để cho một người ngoài tán-mỹ con, môi con đừng làm.

Châm-ngôn 27:1-2

Thứ Hai, 18 tháng 6, 2018

SÁO THẦN PAN và NHỮNG GIAI ĐIỆU QUYẾN RŨ TÂM HỒN .

SÁO THẦN PAN và  NHỮNG GIAI ĐIỆU QUYẾN RŨ TÂM HỒN .



Sáo pan (còn được gọi là panpipes hoặc syrinx) thuộc nhóm nhạc cụ hơi dựa trên nguyên tắc ống kín,  gồm nhiều ống có chiều dài tăng dần (và đôi khi tăng chu vi). Nhiều loại sáo pan từ lâu đã được phổ biến như các nhạc cụ dân tộc . Các ống sáo thường được làm từ tre, nứa, hoặc lau sậy mọc tại địa phương. Các vật liệu sản xuất khác cũng có thể là gỗ, nhựa, kim loại và ngà voi.

Từ nguyên gốc .
Sáo pan được đặt tên theo từ Pan -  trong thần thoại Hy lạp là thần của thiên nhiên và mục tử - thường được mô tả như một nhạc cụ thuộc bộ hơi .
Trong thần thoại Hy Lạp, Syrinx (Σύριγξ) là  Nữ thần rừng xanh. Trong nỗ lực thoát khỏi tình cảm của thần Pan (một sinh vật nửa  dê  nửa người ), Syrinx đã tự biến hình thành sậy nước [hoặc calamos (mía sậy)] . Sau đó, thần Pan vì nhớ thương Syrinx nên đã cắt những ống sậy rỗng , xếp song song cạnh nhau và gắn chúng lại , tạo ra một nhạc cụ có tiếng thổi du dương mỗi khi nhớ đến nữ thần Syrinx . Người Hy Lạp cổ đại gọi công cụ này là Syrinx, để vinh danh Muse, và Pandean, hoặc Pan-pipe , Pan-flute . Syrinx hay Panflute ban đầu được xem là một nhạc cụ hơi chủ yếu của người Hy Lạp, sau đó đã được xử dụng bởi các người Etruscans tại các lễ hội và tiệc chiêu đãi của họ; người Etruscans gọi nó là sáo rò. Người La Mã cũng đã học cách dùng Syrinx từ người Hy Lạp và Etruscans, và họ cũng biểu diễn sáo Pan tại các buổi tiệc, lễ hội  cũng như trong đám rước tôn giáo và tang lễ.

Pan và Daphnis - thế kỷ thứ nhất TCN bản sao La Mã của thế kỷ thứ 2 TCN gốc Hy Lạp
Nguồn https://en.wikipedia.org

Kết cấu


Hai sáo pan Rumani
Nguồn :  https://en.wikipedia.org


Các ống rỗng của sáo pan được chốt lại ở một đầu, tại đó sóng âm đứng bị phản xạ tạo ra một nốt ngắn hơn quãng tám được tạo ra bởi một ống mở có chiều dài bằng nhau. Theo phong cách truyền thống Nam Mỹ, các ống sáo đều được tinh chỉnh để đạt được cao độ cần thiết bằng cách đặt những viên sỏi nhỏ hoặc hạt ngô khô vào đáy ống. Các nhà sản xuất đương đại các loại panpipes kiểu Rumani cong cũng xử dụng sáp (thường sáp ong) để điều chỉnh âm vực , dùng nút chai hoặc nút cao su để điều chỉnh đường kính ống sáo một cách linh hoạt hơn.


sáo pan Andean , hoặc zampoña (Nam Mỹ)
Nguồn https://en.wikipedia.org

Âm học
Nguyên lý âm học của sáo pan dựa trên hơi thổi thoát ra ở phần cuối ống. Âm thanh được tạo ra bởi sự dao động luồng khí thổi qua lỗ mở ở đầu ống cộng hưởng. Chiều dài của ống xác định tần số cơ bản. Một âm thổi mức cao nhất nằm quãng âm 12 cơ bản của các ống sáo , nhưng có thể tạo một bước nhảy quãng 8 nếu sử dụng côn giảm dần.
Nguyên tắc cơ bản sáo pan là tần số và chiều dài của ống là tỷ lệ nghịch với nhau . Mỗi lần cao độ tăng lên một quãng tám thì tần số tăng gấp đôi. Vì có 12 nốt trong một thang âm hoặc một quãng tám đủ, nên mỗi nửa quãng trong một thang âm được nhân 2/12 nốt cơ bản để có được nốt bên cạnh nó. Bằng cách này, có thể tính toán chiều dài của bất kỳ ống sáo nào, nếu biết tần số cơ bản của một ống cho trước . Công thức tính chiều dài của ống sáo pan là L = (c / f) / 4 ("chiều dài lý thuyết L"  bằng tốc độ của âm thanh c = 343 m / s, chia cho tần số mong muốn  f (hertz), lấy số này chia thêm cho 4, Có thể đơn giản hóa và sắp xếp lại như sau : Chiều dài của ống (tính bằng cm) × Tần số ( hertz) = 8575). Do có sự nén hơi trong ống nên chiều dài phải ngắn hơn một chút để điều chỉnh âm vực .


Việc tăng thêm chiều dài cho ống sáo rất hữu ích cho nhà sản xuất, người ta có thể sử dụng nút chai hoặc phích cắm ở phía dưới để điều chỉnh cao độ. Một số dụng cụ sử dụng sáp hoặc bột viên để điều chỉnh âm vực cơ bản của mỗi ống. Một ống có đường kính bằng 1/10 chiều dài của nó mang lại một tông màu điển hình ( Timbre). Đường kính trong của ống khoảng từ 1/7 đến 1/14 chiều dài L là chấp nhận được. Một ống hẹp sẽ có âm thanh "reedy"( sáo sậy - âm rè) , trong khi một ống rộng sẽ có âm "flutey" (sáo ống -âm thánh thót ) . Một phương pháp chính xác hơn là nhân đường kính lỗ khoan cho 0,82 và lấy chiều dài ống trừ đi giá trị này . Điều này bù đắp cho tần số nén chậm trong ống và môi nhằm phụ thêm một phần cho thanh âm phát ra . Chỉ cần tinh chỉnh là có thể thay đổi cao độ cơ bản cho cả mật độ không khí lẫn nhiệt độ.


Xử dụng nhạc cụ 

Sáo pan được chơi bằng cách thổi theo chiều ngang trên một đầu mở ngược với các cạnh bén trong của các ống. Mỗi ống được điều chỉnh tương ứng với một nốt chuẩn, được gọi là tần số cơ bản. Bằng cách thổi , nghĩa là, tăng áp lực hơi thở và lực căng của môi, các âm lẻ (các nốt có tần số là bội số lẻ của âm chuẩn), cũng có thể được tạo ra. Sáo pan Rumani có các ống được sắp xếp theo một mảng cong, cho phép người chơi dễ dàng tiếp cận tất cả các nốt bằng cách xoay đầu sáo. Những dụng cụ này cũng có thể chơi tất cả các âm sắc và trầm , với một kỹ thuật đặc biệt của cả hai cách nghiêng ống và chuyển động hàm , do đó làm giảm kích thước của ống mở và tạo ra một sự thay đổi cao độ. Một người chơi chuyên nghiệp có thể chơi bất kỳ âm vực nào và bất kỳ nốt nào. Có hai kiểu rung , rung bằng tay và bằng hơi thở . Với kiểu rung bằng tay , người chơi áp dụng một chuyển động nhẹ nhàng đến một đầu của sáo pan (thường là nốt cao) giống như cách rung violon đạt được bằng cách lắc bàn tay từ cổ tay. Với kiểu rung bằng hơi là kỹ thuật tương tự được sử dụng bởi người chơi sáo và các bộ gỗ hơi  khác bằng cách sử dụng cơ hoành của người chơi.



Một phi công người Mỹ gốc Peru đang chơi Incan zampoña
Nguồn https://en.wikipedia.org


Các sáo pan kiểu cong đã được phổ biến rộng rãi bởi nhạc sĩ Gheorghe Zamfir người Rumani  . Ông đã đi lưu diễn rộng rãi và thu âm nhiều album âm nhạc sáo trong thập niên 1970. Một số nghệ sĩ khác cùng thời cũng đã bắt đầu thu âm nhiều tác phẩm được biểu diễn bằng sáo pan cong . Ngày nay có hàng ngàn người biểu diễn loại sáo này khắp châu Âu, châu Á và châu Mỹ. Cả hai biến thể sáo pan cong và truyền thống Nam Mỹ cũng rất phổ biến trong các nhóm nhạc truyền thống ở Peru và các nước khác được làm từ cây sồi trong sáng tác và biểu diễn âm nhạc Andean .

Tại Lào và Thái Lan, có một phiên bản sáo pan hình trụ được gọi là wot, được sử dụng trong âm nhạc dân gian . Người chơi thay đổi các nốt bằng cách xoay dụng cụ bằng tay, thay vì chuyển động đầu.


Nhạc sĩ người Mỹ Dom Flemons Nhóm Carolina Chocolate Drops biểu diễn sáo truyền thống của người Mỹ gốc Phi , cùng với harmonica .
Nguồn  https://en.wikipedia.org



Nguồn :  https://en.wikipedia.org/wiki/Pan_flute

* The Panflute Classics

0:03 Bright Eyes
3:56 Sound Of Silence
7:06  Lonely Shepherd
11:28  Amazing Grace
14:34  If I Could
19:02  Memory
 23:08 Sailing
26:56  Feelings
30:22 Wind of Change
34:45 Soleado
37:39  Unchained Melody
40:58  Exodus
44:03  Annie's Song
47:28  Anak
 51:27 Love Changes Everything
54:49  Love Story
58:07 Hymne Vangelis
1:00:51 You Raise Me Up
1:04:48 The Winner Takes It All
1:09:30  Without you
1:13:09  I Have A Dream
1:17:38  It Must Have Been Love
1:21:52 A Whiter Shade Of Pale
1:26:50 Hey Jude
1:31:11 My Heart Will Go On
1:35:49 Sacrifice
1:40:41 One Day In Your Life
1:44:41 Yesterday
1:47:48 I Just Call To Say I Love You
1:51:56 Imagine
1:55:05  Hello
1:59:08  All At Once




* Der Einsame Hirte - The Lonely Shepherd - Người chăn cừu cô đơn

"Nhạc phẩm này có tên tiếng Đức là Der Einsame Hirte, tiếng Anh là “The Lonely Shepherd”, tiếng Việt tạm dịch là chàng mục đồng/chăn cừu cô đơn. Nhạc phẩm khi được thể hiện bằng Sáo Thần Pan là một sự kết hợp tuyệt vời. Nghe tiếng sáo khi nỉ non thánh thót, khi rộn rã tưng bừng ta như hình dung ra cảnh đồi núi mênh mang vùng Trung Âu, thấy tiếng gió rít qua các đồi núi làm tê tái người chăn cừu cô độc… Sở dĩ nhạc cụ này mang tên Sáo Thần Pan vì nó gắn liền với thần thoại Hy lạp về thần Pan và nàng Syrinx nên có các tên gọi là: Panflute, Panpipes hoặc Syrinx, người Việt ta hay gọi là Panflute, Sáo Thần Pan hoặc sáo quạt. Panflute cũng là nhạc cụ truyền thống của Rumania được Georghe Zamfir cải biên tăng số lượng từ 20 ống lên 22, 24…30 để mở rộng âm vực của nhạc cụ.

Nghệ sỹ Georghe Zamfir và nhạc phẩm Der Einsame Hirte lại có mối liên hệ mật thiết với một tên tuổi lẫy lừng khác của âm nhạc thế giới đương đại – Nhạc sỹ người Đức James Last, ông hoàng của những bản nhạc dễ nghe - đã bán được 80 triệu đĩa nhạc trên toàn thế giới, ở tuổi 86, ông vẫn thực hiện tour Non Stop Music, lưu diễn tại 21 thành phố châu Âu.
The Lonely Shepherd được James Last viết và phát hành lần đầu năm 1977 trong album Memories From Russia. Năm 1979 Zamphir thu âm The Lonely Shepherd cùng dàn nhạc James Last. Nhưng có lẽ phải đến khi The Lonely Shepherd được dùng làm nhạc nền cho phim Kill Bill 1 của Quentin Tarantino năm 2003 thì nó mới trở thành một bản nhạc có sức lan tỏa và lay động lòng người đến thế. Các DJs và độc giả các chương trình phát thanh âm nhạc của Mỹ đã xếp The Lonely Shepherd vào hàng “haunting music” là những bài nhạc khi nghe xong vẫn còn muốn nghe nữa, nghe mãi. Những bài nhạc này có cái gì đó hớp hồn, đi vào lòng người và mọi lứa tuổi đều thích nghe.
Nhạc phẩm với sáo Thần Pan này đang được đón nhận với sự tươi mới trong phần thể hiện của các nghệ sỹ trẻ, thế hệ sau Georghe Zamfir như: Petruța Cecilia Küpper, Leo Rojas./.



Phần trình diễn trong clip này thuộc chương trình biểu của Dàn nhạc “Johann Strauss Orchestra” (do Nghệ sỹ người Hà lan Andre Rieu sở hữu và chỉ huy) tại Bucharest vào các ngày 6,7,11,12,13, 14/6/2015. Jamfir là khách mời danh dự. Sân khấu cho dàn nhạc được dựng trên Quảng trường Hiến pháp đối diện Cung Nghị viện trước đây là Cung Ceaușescu. 19 ngàn vé của ngày biểu diễn đầu tiên đã được bán hết trong 2 ngày. Mọi người để ý màn hình ở đoạn từ “-3:44 đến – 3:38” sẽ thấy hình ảnh một chỉ huy dàn nhạc, đó chính là cha đẻ của nhạc phẩm, nhạc sỹ - chỉ huy dàn nhạc James Last. Điều đáng buồn là công chúng yêu âm nhạc nói chung và người mộ điệu nhạc phẩm The Lonely Sheppherd đã mất ông vào ngày 9/6/2015 giữa lúc tác phẩm yêu thích này đang được tấu lên và làm say đắm lòng người tại quê hương của Zamfir người góp công lớn trong việc phổ biến nhạc phẩm đến với công chúng yêu nhạc toàn cầu.





Leo Rojas' official music video for 'Der einsame Hirte'
Đây là nghệ sỹ sáo Thần Pan : Leo Rojas người Ecuador, hiện đang sinh sống tại Berlin. Nghệ sỹ tuổi tí này đã đoạt giải nhất cuộc thi "tìm kiếm tài năng" của Đài THQG Đức mùa 2011. Màn trình diễn của Leo đối với nhạc phẩm hơn trăm tuổi El Condo Pasa cũng được rất nhiều người mến mộ





JAMES LAST with GHEORGHE ZAMFIR - The Lonely Shepherd/Alouette






Gheorghe Zamfir Greatest Hits - Best Of Gheorghe Zamfir












Nguồn : 
http://www.sansannews.com/2017/03/der-einsame-hirte-lonely-shepherd-nguoi-chan-cuu-co-don.html





------------------------------------------------------------------------------------------- 

Chớ khoe-khoang về ngày mai; Vì con chẳng biết ngày mai sẽ sanh ra điều gì. Hãy để cho kẻ khác khen-ngợi con, miệng con chẳng nên làm; Để cho một người ngoài tán-mỹ con, môi con đừng làm.

Châm-ngôn 27:1-2

Thứ Ba, 3 tháng 10, 2017

NHỚ TRUNG THU NĂM ẤY .

NHỚ TRUNG THU NĂM ẤY .



Trung thu xưa bao kỷ niệm tuổi thơ ,
Dưới trăng rằm tròn to như tranh vẽ ,
Chúng tôi ngồi nghe truyện tích xưa bà kể :
Có chú Cuội già ôm mãi một mối mơ ...

Có chị Hằng Nga đẹp xinh và thùy mị ,
Bên gốc đa to che chở mảnh trời xanh
Nhớ chiếc bánh trung thu ,
Nhớ chén chè đậu ngọt lành .
Đêm về ngủ thấy tiên sa giấc mộng .




Trần hồng Cơ
03/10/2017












Trong hình ảnh có thể có: 3 người, mọi người đang ngồi

Trong hình ảnh có thể có: 5 người, ngoài trời

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người

Trong hình ảnh có thể có: 3 người, mọi người đang đứng, trẻ em và ngoài trời

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người và ngoài trời

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang ngồi và trong nhà

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, ngoài trời


Trang viết từ năm 1913 của học giả Nguyễn Văn Vĩnh cho thấy, dù trong hoàn cảnh khó khăn, Trung thu là dịp đoàn viên trong mỗi gia đình người Việt.
Năm 1913, học giả Nguyễn Văn Vĩnh có bài viết về Trung thu, đăng trên Đông Dương tạp chí. Sau này, bài viết được các nhà biên soạn đưa vào tập sách Nhời đàn bà (dự kiến xuất bản vào cuối năm 2017).
Trước một cuộc sống bần hàn và lam lũ của người dân An Nam, trước những thiếu thốn vật chất của đa số đồng bào, nhưng học giả Nguyễn Văn Vĩnh vẫn nhận ra trong tết Trung thu có nét sinh hoạt thấm đẫm tình người, với góc nhìn đạo lý, tinh thần đoàn viên của đời sống gia đình. Theo ông, đó là những nhân tố cốt lõi gây dựng nên những giá trị đạo đức muôn thuở của bất kỳ một cộng đồng xã hội nào.
Zing.vn giới thiệu với bạn đọc hôm nay bài viết từ một thế kỷ trước của Nguyễn Văn Vĩnh.
Mot the ky truoc nguoi Viet don Trung thu ra sao? hinh anh 1
Mâm cỗ Trung thu xưa. Ảnh: tư liệu.
Lời dẫn cho bài viết trên Đông Dương tạp chí (số 19 ra năm 1913): Tết cho trẻ em vui chơi, mà cũng là cái tết cho đàn bà trổ tài khéo léo nữ công, và biểu hiện tình cảm yêu thương với con em, cho nên tùy hoàn cảnh của từng gia đình, có ít làm ít, có nhiều làm nhiều, cỗ trung thu của gia đình, dù nghèo nàn không bằng người, vẫn là niềm vui sướng tự hào của con trẻ vì nó là của mình, của cha mẹ làm cho mình, do đó con trẻ cũng tràn ngập lòng yêu thương cha mẹ.
Tôi biết trong dịp tết trung thu, ta tổ chức cho nữ giới thi nữ công, làm bánh và bày cỗ, làm cho tết Trung thu mọi nhà không khí thêm vui tươi, đồng thời cũng gây phong trào làm cho nữ công trau dồi nữ công, gia đình thêm ấm cúng.
Tuần lễ trước tôi mới làm bánh tháng Tám cho mấy em nhỏ chơi, cho nên nhắm mắt một kỳ báo, xin các quan cùng các bà xem báo tha thứ cho.
Tết này là tết trẻ con mà lại là tết đàn bà nữa. Xét ra trong các ngày tết thì tục An Nam ta thực nhiều điều hủ lậu, duy có cái tết này em tưởng, trừ ra việc trẻ con đánh trống váng óc điếc tai, còn những cuộc chơi của trẻ, như là bày cỗ, cầm đèn thỏ, đèn cá đi hò khoan ở dưới bóng giăng, làm đèn chạy quân đèn sẻ rãnh, bầy đình bày chùa giấy, đều là những cách chơi hay, làm một dịp cho đàn bà khoe khéo, cho đàn ông dấu tài vặt, cho những nhà lịch sự tỏ cái tao nhã, cái thanh lịch ra…
Mot the ky truoc nguoi Viet don Trung thu ra sao? hinh anh 2
Tết Trung thu của trẻ em con nhà khá giả xưa. Ảnh: tư liệu.
Phàn nàn thay cho những người không được làm trẻ con bao giờ! Có được làm qua trẻ con một lần rồi, mới ngấm được bài thơ tuyệt thú ở trên cái bàn dộc, nhà giầu thì mùi bánh, đèn cù sẻ rãnh; nhà khó thì dăm ba trái bưởi, trái na, nhưng dầu sang dầu mọn, trên cái bàn dộc ấy biết bao nhiêu tình ân ái, biết bao nhiêu bụng yêu thương.
Ai là kẻ nhìn thấy cỗ người ta, nhất là cỗ các nhà nghèo, dẫu thế nào cũng là to, thì lại chẳng nhớ đến sự lo lắng của mẹ ta ngày xưa, tất tả từ mười một cho đến mười bốn, để có cho ta được mâm bánh cân hồng, lo chẳng nổi đi nữa, mươi tấm mía buộc cái lạt tím, năm quả bưởi nhộm năm màu, đĩa xôi vơi độn thêm cái bát tướng, cũng đủ là cho ta được khoe cỗ với trẻ láng giềng. Dầu cỗ chúng đắt tiền đến đâu, cũng chẳng bằng cỗ nhà ta. Xét ra trong việc tự đắc chê của người ấy, thực có một tình yêu cha mếm mẹ vô cùng.
Bởi vậy cho nên tôi mải cỗ đến nỗi nghỉ một kỳ báo.
Rằm tháng Tám là một ngày tết ta nên cải lương, ta phải gây cho thành một hội thi đẹp, thi khéo của người đàn bà, nhân làm vui cho các em bé, mà tỏ các tài xôi bánh cỗ bàn, gọt hoa dán giấy, thắp nến đốt đèn, tô xanh điểm đỏ, thực là một cái khéo riêng của người An Nam ta, không có gì mà làm nên đẹp nên vui mắt.
Mot the ky truoc nguoi Viet don Trung thu ra sao? hinh anh 3
Giá thử năm nay dân ta không bị nước lụt, muôn nghìn người còn phải lo miếng cơm chẳng có mà ăn, sào mạ chẳng có mà cấy, thì em đã định bàn với quý quán từ tháng trước, để mở một cuộc chơi riêng, thì những tài mọn của đàn bà nước Nam ấy, để trước nữa báo quán nhân dịp mà cứu xét luận bàn đến mấy tục hay nhà ta, sau nữa để lũ đầu xanh cũng thêm ra mấy cách chơi nhã nhặn thanh tao hơn là đi cầm cái đầu sư tử đánh trống ngoài đường váng tai nhức óc người ta.
Chẳng may năm nay đồng bào ta đói, cho nên ta tưởng cũng phải để tang vụ mùa này, mà nhịn đi, hoãn đến sang năm, nhờ giời được phong thịnh, ta sẽ bàn ra vài cách thưởng nguyệt rứt văn minh.
Xin cuội tháng Bảy sang năm tôi có quên thì ai nhắc hộ, nhé!

Nguyễn Văn Vĩnh
















 -------------------------------------------------------------------------------------------

 Love not the world, neither the things that are in the world. If any man love the world, the love of the Father is not in him. For all that is in the world, the lust of the flesh, and the lust of the eyes, and the pride of life, is not of the Father, but is of the world. 1 John 2:15-16 KJV 

 Chớ yêu thế gian cùng những gì trong thế gian. Nếu ai yêu thế gian thì sự kính yêu Thượng Đế không ở trong người ấy. I Giăng 2:15

*******

Blog Toán Cơ trích đăng các thông tin khoa học tự nhiên của tác giả và nhiều nguồn tham khảo trên Internet .
Blog cũng là nơi chia sẻ các suy nghĩ , ý tưởng về nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau .


Chia xẻ

Bài viết được xem nhiều trong tuần

CÁC BÀI VIẾT MỚI VỀ CHỦ ĐỀ TOÁN HỌC

Danh sách Blog

Gặp Cơ tại Researchgate.net

Co Tran