Wikipedia

Kết quả tìm kiếm

Giải toán trực tuyến W | A




Vẽ đồ thị trong Oxyz plot3D(f(x,y),x=..,y=..)
Vẽ đồ thị trong Oxy plot(f(x),x=..,y=..)
Đạo hàm derivative(f(x))
Tích phân Integrate(f(x))


Giải toán trực tuyến W|A

Hiển thị các bài đăng có nhãn phim ảnh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn phim ảnh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 24 tháng 12, 2015

CÂU CHUYỆN GIÁNG SINH 2015 .


CÂU  CHUYỆN GIÁNG SINH 2015  */* .



     

                    




Lịch sử ngày lễ Giáng sinh .

Có một lịch sử lâu đời về các nghi lễ và kỳ nghỉ Giáng sinh mà những Cơ Đốc nhân ngày nay thường tiến hành theo tập quán nhưng thật ra đã trải qua một quá trình tiến hóa . Phong tục tặng quà, hát thánh ca , và ông già Noel Santa Claus từng là những biểu tượng rất xa xưa và là truyền thống lễ Giáng sinh , nhưng những điều đó đã không phải từng luôn luôn là một phần trong việc kỷ niệm ngày lễ. Trong thực tế, đã có một khoảng thời gian lễ Giáng sinh đã bị các nhà thờ cấm đoán . Vì vậy, làm thế nào mà chúng ta biết được rằng lễ Giáng sinh đã đến được với nhân loại như ngày nay ?

Ngảy đông chí .

Các tu sĩ của tôn giáo cổ Celt tổ chức lễ kỷ niệm mùa đông của họ vào ngày ngắn nhất trong năm (21 tháng 12 - ngảy đông chí ) khi họ đã trải qua những tháng mùa đông tồi tệ nhất và bắt đầu chờ đợi những giờ phút ban ngày dài hơn . Các linh mục Celtic sẽ cắt cây tầm gửi và chúc lành cho họ. Quả của cây tầm gửi là biểu tượng của cuộc sống trong những tháng mùa đông tối tăm.

Vào ngày đông chí La Mã, còn gọi là Saturnalia, những người đàn ông tham gia ăn mặc như phụ nữ còn giới chủ nhân ăn mặc như người hầu. Các cuộc diễu hành , trang hoàng nhà cửa với cây xanh , thắp nến , và tặng quà cho nhau là những nghi thức phổ biến . Họ tổ chức lễ mừng sao Thổ, được xem là vị thần của nông nghiệp trong hơn một tháng. Trong cùng khoảng thời gian họ sẽ ăn mừng lễ Juvenalia ,với mục đích tôn vinh thiếu nhi .

Ngày 25 tháng 12, người La Mã sẽ tôn vinh Mithra, thần mặt trời  bất khả chinh phục , được cho là sinh ra từ một tảng đá.

Thuật ngữ Yule đến từ chữ "houl", có nghĩa là bánh xe thay đổi theo thời tiết mùa vụ , theo truyền thống người Na uy ở Bắc Âu. Trong lễ kỷ niệm này, những người đàn ông sẽ mang về nhà những khúc gỗ lớn để đốt lửa trại . Họ sẽ dự tiệc và ăn mừng cho đến lúc lửa tàn - đôi khi kéo dài đến 12 ngày.

Mỗi tia lửa bắn ra có biểu tượng cho một con lợn hoặc con bê có thể được sinh ra trong năm mới.

Sự can thiệp của Đức Giáo Hoàng .

Vào thế kỷ thứ 4, Giáo hoàng Julius đệ I ra chỉ dụ rằng ngày 25 tháng 12 sẽ là ngày Giáng sinh, còn được gọi là Lễ Thánh đản . Trước khi có tuyên bố này, lễ Phục Sinh được xem là ngày lễ đầu tiên của Kitô giáo . Tuyên bố của Julius đệ I  là một nỗ lực của Giáo Hội nhằm mục đích Kitô hóa các thánh lễ ngoại giáo khác như Saturnalia - lễ thần mặt trời.

Thời trung cổ (400AD-1400AD)

Bắt đầu từ thời kỳ này mà ngày nay chúng ta có được 12 ngày lễ Giáng sinh, được tổ chức từ 25 Tháng mười hai  đến 6 Tháng một (lễ Hiển Linh).

Người ta giữ lại các truyền thống ngoại giáo như trang trí nhà cửa với cây xanh , tổ chức các lễ hội và biến thành một phần của truyền thống Giáng sinh bằng cách gán cho chúng ý nghĩa Kitô giáo.

Trước 529 AD, ngày 25 tháng 12 đã được công bố là một kỳ nghỉ dân sự, và 12 ngày của lễ Giáng sinh cũng đã được công bố bắt đầu từ năm 567 AD. Sự kiện này sau đó dẫn đến thuật ngữ "Twelfth Night" mà bất kỳ trẻ em Kitô giáo nào cũng biết rõ từ các bài  học về văn hào W. Shakespeare. Đêm thứ mười hai được tổ chức vào ngày 06 tháng 1, và là một ngày lễ lớn như Giáng sinh cho đến cuối những năm 1800.

Thế kỷ 17 - 18

Lễ Giáng sinh đã im lặng suốt trong thời gian này, khi các tấm gương khắt khe về đạo đức , sự tuân thủ nghiêm ngặt trong việc cầu nguyện và Kinh Thánh Tân Ước đã rất được coi trọng . Trước năm 1644, hoạt động Giáng sinh đã bị cấm ở Anh do có niềm tin cho rằng lễ Giáng sinh đã được liên kết quá chặt chẽ với những người ngoại giáo thờ thần mặt trời Saturnalia.

Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau cuộc Cách mạng Hoa Kỳ , những người Mỹ bắt đầu không chấp nhận các phong tục Anh quốc. Ngay cả lễ Giáng sinh cũng đã không được cử hành long trọng khi Quốc hội đang họp vào ngày 25 tháng 12 năm 1789.


Triều đại Victoria (1837-1901)

Chúng ta có thể cảm ơn những người ở thời đại này đã mang lại cho chúng ta lễ Giáng Sinh ngày nay. Tầng lớp trung lưu ở Anh và Mỹ  bắt đầu ăn mừng và lý tưởng hóa lễ Giáng sinh như chúng ta đã thấy trong các tiểu thuyết của triều đại này từ Irving đến Dickens. Các kỳ nghỉ không còn đại diện cho một lễ hội hóa trang hoang dã như trước kia nữa , mà đã hướng về sự bình an , gia đình, và những hoài niệm .

Ở thời kỳ này mọi người thường sử dụng các tấm thiệp ngày Valentines để trao tặng cho nhau và trang trí những cây Giáng sinh. Hầu hết các phong tục mới mẻ đã du nhập từ Mỹ. Trước năm 1870 lễ Giáng sinh đã được công bố là một ngày lễ liên bang tại Hoa Kỳ.

Lễ Giáng sinh thời hiện đại

Ngày nay lễ Giáng sinh được tổ chức trên toàn thế giới. Trong khi trước đây các quan điểm của Giáo Hội lo lắng rằng việc cử hành Giáng sinh đã quá gắn liền với nghi lễ ngoại giáo , thì bây giờ sự lo lắng lại hướng về tính chất quá thương mại hóa và thế tục hóa. Tuy nhiên, với sự trung dung, thật dễ nhớ rằng đây là một ngày để ăn mừng ngày sinh của Chúa cứu thế đồng thời cũng để kỷ niệm những gì Chúa Giêsu muốn chúng ta thực hiện - tình yêu dành cho nhau .


Trần hồng Cơ
Nguồn  http://christianteens.about.com/od/christianholidays/a/ChristmasHistor.htm






** Đọc Kinh Thánh 

https://www.bible.com/vi/bible/151/luk.2



https://www.bible.com/vi/videos





* Nhạc Giáng sinh .




























** Xem phim hay mùa Giáng sinh .















Đức Tin Trầm Lặng

Chàng thợ mộc trẻ mang tên Giô-sép, đối với tôi, cũng là một ngôi sao sáng điểm tô cho khung trời đêm giáng sinh thêm lấp lánh, dù Thánh Kinh chẳng ghi lại một lời nói nào của chàng. Tôi không dám có sự phân biệt hồ đồ trong lãnh vực đức tin, nhưng nếu so với nhiều đức tin nổi bật, thì đây lại là một đức tin trầm lặng, không nói ra thì chẳng ai biết. Một con người rất bình thường, với một đức tin rất bình thường, lại có một chỗ trong chương trình lớn của Đức Chúa Trời tiến hành cho cả nhân loại.

Đó là một người được giáo dục trong môi trường đức tin để có một đời sống với cách hành xử hòa bình đáng khâm phục. Câu 19 của Phúc Âm đoạn 1 này viết: “Giô-sép chồng người, là người có nghĩa, chẳng muốn cho người mang xấu, bèn toan đem để nhẹm”. Chàng không những là “con cháu Đa-vít” nhưng là một hậu bối biết kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời để yêu người lân cận như yêu chính mình. Đứng trước một biến cố kín giấu, đến thời điểm đó chỉ có Ma-ri và chàng trao đổi với nhau, trên nền tảng đức tin trầm lặng, Giô-sép đã có một quyết định không phải ai cũng có thể chấp nhận. Đó là cách tốt nhất chàng có thể làm cho người mà chàng thương yêu, với tâm trạng chưa biết nhiều về kế hoạch huyền nhiệm của Chúa Giê-hô-va; cho đến khi gặp thiên sứ của Chúa trong giấc chiêm bao, lắng nghe lời giải trình trực tiếp ơn cứu rỗi mà bấy lâu nay chàng chỉ được truyền dạy qua các lời tiên tri.

Lời tiên tri được ban truyền từ xa xưa trong quá khứ được thiên sứ của Chúa nhắc lại cho Giô-sép với những giải thích rõ ràng, với mệnh lệnh chuẩn xác, với trọng trách được chỉ định trong bảo đảm tuyệt đối. Tất cả xua tan đi mối nghi ngờ rối rắm trong lòng Giô-sép, chàng nhìn biết nhiệm vụ mà Chúa Giê-hô-va đặt trên vai mình; và tình yêu dành cho Ma-ri đã thoát ra khỏi đám mây mù phiền muộn, lại tiếp tục rạng rỡ trong con tim trầm lặng. Không còn thắc mắc, chẳng cần phải hỏi han thêm, đức tin trầm lặng đó đã được Lời của Chúa khai phóng, Giô-sép ghi nhận không sót một lời những gì Chúa phán với chàng qua giấc chiêm bao đêm đó. Đức tin của Giô-sép đã được nâng lên, chàng chấp nhận dấn thân vì Danh Chúa Em-ma-nu-ên.

“Khi Giô-sép thức dậy rồi, thì làm y như lời thiên sứ của Chúa đã dặn, mà đem vợ về với mình; song không hề ăn ở với cho đến khi người sanh một trai, thì đặt tên là Jêsus” (câu 24, 25). Không giải thích, không một chút khoe khoang, chẳng cần thêm ý kiến hay kêu gọi một sự ủng hộ nào khác, chàng trai trẻ với một đức tin trầm lặng đã thuận phục theo ý Chúa để làm trọn mọi điều Chúa giao phó. Đức tin trầm lặng đi những bước trưởng thành, không còn làm theo ý mình cho là phải, nhưng hết lòng hết sức hết ý làm theo ý muốn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời Chí Nhân Chí Ái. Không còn là thể hiện tình yêu theo cảm tính, nhưng mặc lấy tình yêu thương từ thiên thượng để sống và nuôi dưỡng Tình Yêu.

Đức tin trầm lặng cũng có chỗ trong công việc nhà Chúa.

M. Jeudi

Nguồn  http://www.about.com/religion/topic/ChristmasOrgins
https://www.wordproject.org/bibles/vt/23/9.htm
http://www.vietchristian.com/vanpham/reader.asp?vcid=5,2004



------------------------------------------------------------------------------------------- 

-Bậc thềm tiến vào thánh đường của trí tuệ là biết sự ngu dốt của chính mình. 

The doorstep to the temple of wisdom is a knowledge of our own ignorance. 

Benjamin Franklin

Thứ Hai, 2 tháng 3, 2015

Nữ hoàng Ai Cập CLEOPATRA


Nữ hoàng Ai Cập   CLEOPATRA 
Nguồn : http://vi.wikipedia.org/wiki/Cleopatra_VII


Cleopatra VII Philopator (tháng 1, 69 TCN – 12 tháng 8, 30 TCN, tiếng Hy Lạp: Κλεοπάτρα Φιλοπάτωρ), sau này Cleopatra Thea Neotera Philopator kai Philopatris, là một Nữ hoàng của Ai Cập cổ đại, và là thành viên cuối cùng của triều đại Ptolemy và vì thế là nhà cai trị người Hy Lạp cuối cùng ở Ai Cập. Dù nhiều Nữ hoàng Ai Cập khác cũng có tên này, bà thường được gọi đơn giản là Cleopatra, và tất cả các người cùng tên sau này hầu như đã bị quên lãng.
Cleopatra là một trong những người nổi tiếng nhất mọi thời đại. Trong một cuộc nội chiến giữa chính phủ và dân chúng, khi Julius Caesar đang giữ một vai trò quan trọng trong lực lượng quân đội, Thư viện Alexandria bị đốt cháy, đây là một bảo tàng cổ của Ai Cập nơi các học giả từ khắp thế giới đến để nghiên cứu. Cuộc chiến này, đặc biệt là việc đốt cháy Thư viện Alexandria được coi là một trong những mất mát lớn nhất trong lịch sử nhân loại.
Cleopatra là người cùng cai trị Ai Cập với cha (Ptolemy XII Auletes), em trai/chồng Ptolemy XIII và Ptolemy XIV và, sau này, con trai Ptolemy XV Caesarion. Cleopatra sống sót sau một cuộc đảo chính do các cận thần của Ptolemy XIII tiến hành, lập được một liên minh với Gaius Julius Caesar củng cố ngôi vị, và sau khi Caesar bị ám sát, liên kết với Marcus Antonius và có con sinh đôi với ông ta. Sau này bà lấy Marcus Antonius và sinh ra một cậu con trai khác. Tổng cộng, Cleopatra có 4 con, 3 với Antonius và 1 với Caesar. Khi sống với các em trai, bà không có con.
Sau khi đối thủ của Antonius và người thừa kế của Caesar là Augustus (Gaius Julius Caesar Octavian) dùng sức mạnh của Đế chế La Mã chống lại Ai Cập, Cleopatra tự sát ngày 12 tháng 8 năm 30 TCN. Danh tiếng của bà vẫn còn lại dưới hình thức nhiều câu chuyện được sân khấu hoá, gồm cả vở kịch Antony và Cleopatra của William Shakespeare và nhiều bộ phim hiện đại.

Cuộc đời

Theo văn hóa và ngôn ngữ Cleopatra là một người Hy Lạp, bà nổi tiếng vì là thành viên đầu tiên trong gia đình (trong giai đoạn cầm quyền 300 năm của họ tại Ai Cập) đã học tiếng Ai Cập. Cleopatra cũng nổi tiếng vì sắc đẹp và trí thông minh của bà. Cleopatra có thể nói 9 thứ tiếng và rất thông minh. Bà đã được hưởng một nền giáo dục toàn diện, được trao quyền và bộc lộ tài lãnh đạo từ rất sớm.

Ra đời và cai trị cùng cha
"Cleopatra" theo tiếng Hy Lạp là vì "vinh quang của vua cha", và tên đầy đủ của bà Cleopatra Thea Philopator có nghĩa là "Nữ thần Cleopatra, đứa con Yêu dấu của Vua cha." Bà là con gái thứ ba của vua Ptolemy XII Auletes và nữ hoàng Cleopatra V. Cha mẹ của Cleopatra là hai anh em ruột, và bà là người đứng thứ ba về quyền kế vị sau khi hai người chị gái kia đã chết. Khi Cleopatra VII lên ngôi ở Ai Cập, bà mới chỉ 18 tuổi. Bà cai trị với tư cách Nữ hoàng Cleopatra và Pharaoh trong giai đoạn 51 tới 30 TCN, và chết ở tuổi 39 vì nọc độc của rắn mào. Loài rắn nảy có bộ da sần sùi và đặc điểm nổi bật nhất là chiếc mào nhỏ hơi giống mào gà vì nó cũng có màu đỏ

Cai trị cùng Ptolemy XIII
Khi người cha qua đời mùa xuân năm 51 TCN, lúc chỉ mới 18 tuổi và là con lớn nhất của Auletes (hai người chị gái đã chết) bà trở thành người cùng cai trị với em trai Ptolemy XIII. Bà đã lấy em trai (theo phong tục cung đình của Ai Cập lúc đó, việc này không bị coi là loạn luân) và lợi dụng việc này để củng cố ngôi vị của mình.

Bị lật đổ
Tới tháng 8 năm 51 TCN bà loại bỏ tên của người em trai ra khỏi mọi giấy tờ chính thức, bỏ qua truyền thống dòng họ Ptolemy rằng phụ nữ cai trị phải phụ thuộc vào người nam giới cùng cai trị. Hơn nữa, trên đồng tiền xu chỉ in hình Cleopatra. Có lẽ bởi vì tính nết độc lập của bà, một âm mưu của triều thần, do hoạn quan Pothinus cầm đầu, lật đổ Cleopatra khỏi ngôi báu - có lẽ xảy ra năm 48 TCN, nhưng cũng có thể sớm hơn - từ năm 51 TCN nghị định nhà nước chỉ còn ghi tên Ptolemy. Bà tìm cách tổ chức một cuộc nổi loạn ở quanh Pelusium nhưng nhanh chóng bị buộc phải rời Ai Cập. Người em gái duy nhất còn lại là Arsinoë đi cùng bà.

Julius Caesar và Cleopatra
Caesar

Tuy nhiên, tới mùa thu năm 48 TCN, quyền lực của Ptolemy bị đe dọa vì sự can thiệp thiếu thận trọng của ông vào công việc của Đế chế La Mã. Khi Gnaeus Pompeius Magnus, bỏ chạy trước Julius Caesar, tới trốn tránh tại Alexandria, Ptolemy đã ám sát ông ta để lấy lòng Caesar. Caesar quá tức giận trước sự xảo trá đó của Ptolemy và ông chiếm thủ đô Ai Cập, tự đặt mình làm trọng tài giải quyết các tranh chấp giữa Ptolemy và Cleopatra (Pompeius đã cưới con gái duy nhất của Caesar, Julia, đã chết khi sinh con). Sau một cuộc chiến ngắn, Ptolemy XIII bị giết.
Cleopatra và con trai Caesariontại Đền Dendera
Để cứu vãn ngôi báu, Cleopatra tìm cách quyến rũ Caesar bằng sắc đẹp và trí thông minh, sự lịch lãm của mình . Bà được Caesar tái lập lên ngôi báu, cùng với một em trai khác Ptolemy XIV là người đồng cai trị.
Caesar sống qua mùa đông năm 48 TCN–47 TCN ở Ai Cập, và làm tăng uy thế chính trị của Cleopatra bằng cách yêu bà. Ai Cập vẫn giữ được độc lập, nhưng ba quân đoàn Roma vẫn đồn trú lại đó. Mối quan hệ trong mùa đông giữa Cleopatra và Caesar có kết quả là một đứa con trai tên là Ptolemy Caesar (tên hiệu Caesarion hay "Caesar nhỏ"). Tuy nhiên, Caesar không cho đứa trẻ này quyền thừa kế, thay vào đó ông chỉ định đứa cháu gọi bằng ông cậu là Augustus, nhận làm con nuôi.



Marcus Antonius

Năm 42 TCN, Marcus Antonius, một trong những thành viên Tam đầu chế cai trị Roma khi có khoảng trống quyền lực sau khi Caesar chết, mời Cleopatra tới gặp ông ở Thành phố Tarsus để giải đáp những câu hỏi về sự trung thành của bà. Cleopatra tới với sắc đẹp và sự quyến rũ tới mức Antonius quyết định sống qua mùa đông năm 42 TCN–41 TCN với bà ở Alexandria. Trong mùa đông, bà có mang cặp con sinh đôi, sẽ được đặt tên là Cleopatra Selene (Cleopatra Mặt Trăng) và Alexander Helios (Alexander Mặt Trời).

Marcus Antonius và Cleopatra
Bốn năm sau, 37 TCN, Antonius lại tới thăm Alexandria trên đường đi chiến đấu với người Parthia. Ông nối lại quan hệ với Cleopatra, và từ đó Alexandria trở thành ngôi nhà của ông. Ông cưới Cleopatra theo nghi lễ Ai Cập (một bức thư đăng trong Cuộc đời của Mười hai Caesars của Suetonius cho thấy điều này), dù khi ấy ông đã cưới Octavia Minor, em (hay chị) gái của người bạn trong Tam đầu chế là Augustus, khiến Augustus tức giận.
Ông và Cleopatra lại có một đứa con khác, Ptolemy Philadelphus. Tại Lễ quyên góp Alexandria cuối năm 34 TCN, sau khi Antonius chinh phục Armenia, Cleopatra và Caesarion được phong là những người đồng cai trị Ai Cập và Síp; Alexander Helios được phong làm vua cai trị Armenia, Media và Parthia; Cleopatra Selene làm vua của Cyrenaica và Libya; và Ptolemy Philadelphus thành vua của Phoenicia, Syria và Cilicia. Cleopatra cũng được phong danh hiệu Nữ hoàng của các ông Vua.
Hình Cleopatra trên đồng tiền đúc tại Syria

Trong cuộc tranh chấp giành ngôi chủ La Mã, Augustus và Antonius đánh nhau và chia cắt đế quốc.
Có một số câu chuyện nổi tiếng nhưng chưa được kiểm chứng về Cleopatra, câu chuyện nổi tiếng nhất là trong một bữa tối xa hoa cùng với Marcus Antonius, bà đặt cược với Antonius rằng mình có thể chi mười triệu sestertius cho một bữa tối. Antonius chấp nhận vụ cược. Tối hôm sau, Cleopatra có một bữa ăn bình thường, không có gì đặc biệt; khi bà ra lệnh mang ra món thứ hai - chỉ một chén dấm mạnh, Antonius tỏ ý chế giễu. Bà tháo một chiếc hoa tai vô giá của mình thả vào đó để nó tan ra và uống cạn.

Cách hành xử của Antonius bị người La Mã coi là thái quá và Augustus thuyết phục Nghị viện La Mã tiến hành chiến tranh chống Ai Cập. Năm 31 TCN các lực lượng của Marcus Antonius đối mặt với Augustus trong một trận thủy chiến ngoài khơi Actium. Cleopatra có mặt với một hạm đội của riêng mình. Truyền thuyết kể rằng khi thấy hạm đội tàu vận hành thủ công và có trang bị kém cỏi của Antonius đang chiến đấu, bà đã bỏ chạy và rằng Antonius cũng bỏ mặc binh sĩ của mình để theo bà. Dù các binh sĩ của Antonius đã dũng cảm chống trả 7 ngày liền nhưng cuối cùng bị thua các tàu chiến La Mã vì không có chủ tướng (tuy nhiên, không hề có một bằng chứng nào thời đó cho thấy thực tế đã xảy ra như vậy).
Sau trận Actium, Augustus xâm chiếm Ai Cập. Khi ông tiến tới Alexandria, quân đội của Marcus Antonius đã rời khỏi đó ngày 12 tháng 8 năm 30 TCN.

Cái chết của Cleopatra của Reginald Arthur
Cái chết 

Khi đã bại trận, để thử lòng chung thủy của Marcus Antonius, Cleopatra sai người báo với ông rằng bà đã chết. Marcus Antonius đau khổ tự sát. Vài ngày sau Cleopatra cũng tự sát (có lẽ do chính bà thực hiện). Câu chuyện còn cho rằng bà bị một con rắn mào gà cắn cùng với hai người hầu. Thông thường mọi người cho rằng bà đã có chủ tâm để rắn cắn, vì người Ai Cập tin rằng nhờ thế có thể đạt tới bất tử. Trong mọi câu chuyện, bà đều chết với hai người hầu. Augustus, đang chờ đợi ở một cung điện gần đó, được thông báo về cái chết của bà và đã đích thân tới quan sát.
Augustus đã hợp táng bà và Antonius trong một ngôi nhà mộ đôi mà bà đã chủ định xây từ trước dành cho hai người.
Con trai của Cleopatra với Caeser, Caesarion, được người Ai Cập đưa lên làm pharaoh, nhưng Augustus đã thắng trận. Caesarion bị bắt và bị hành quyết theo lệnh của Octavian. Chấm dứt không chỉ giai đoạn cai trị của người Hy Lạp trên ngôi vị pharaoh ở Ai Cập mà cả giai đoạn pharaoh ở Ai Cập.
Ba con của Cleopatra với Marcus Antonius được miễn tội và được đưa về Roma nơi chúng được vợ của Antonius là Octavia nuôi nấng. Vài năm sau đó, Alexander Helios và Ptolemy Philadelphus biến mất không để lại dấu vết, chỉ còn lại Cleopatra Selene. Khi lớn lên, con gái Cleopatra Selene kết hôn với Vua Juba II của Mauretania và hạ sinh ít nhất một người con đặt tên là Ptolemy Philadelphus nhằm tưởng nhớ tới người em trai mất tích. Hình của Cleopatra Selene từng được khắc trên các đồng xu cùng với hình của Vua Juba.
Ai Cập trở thành một tỉnh của đế quốc La Mã dưới quyền hoàng đế Augustus.

Cleopatra trong nghệ thuật, điện ảnh và văn học

Cuộc đời Cleopatra là nguồn cảm hứng cho nhiều nhà văn và nghệ sĩ qua nhiều thế kỷ. Không nghi ngờ rằng, đa phần sức lôi cuốn xuất phát từ huyền thoại về sắc đẹp có sức quyến rũ mạnh mẽ biến bà trở thành đồng minh của hai người đàn ông quyền lực nhất thời ấy (Caesar và Antonius).

Kịch
Trong số những vở kịch nổi tiếng nhất về bà:
Antony and Cleopatra (kh. 1607) của William Shakespeare
All for Love (1678) của John Dryden
Caesar and Cleopatra (1901) của George Bernard Shaw
The Death of Cleopatre của Ahmed Shawqi

Văn học 
Cléopâtre của Jules-Émile-Frédéric Massenet
Incipit Legenda Cleopatrie Martiris, Egipti Regine từ cuốn The Legend of Good Women của Geoffrey Chaucer
Cléopatre của Victorien Sardou
Cleopatra (1889) của H. Rider Haggard
The Memoirs of Cleopatra của Margaret George
Nhiều cuốn sách về Asterix, với Cleopatra từ cảm hứng của Elizabeth Taylor

TV
Clone High
Rome - Series 1 (Caesarion (tập về Rome)), và có lẽ cả Series 2
Teresa Pavlinek trong vai Cleopatra trong một tập History Bites nói về trận Actium
The Cleopatras, một serie truyền hình của BBC phát sóng năm 1983

Phim ảnh 
Bộ phim đầu tiên đề cập tới Cleopatra là phim Antony and Cleopatra (1908) với Florence Lawrence thủ vai Cleopatra. Phim đầu tiên với Cleopatra là nhân vật chính là Cleopatra, Queen of Egypt, với diễn viên chính Helen Gardner (1912).
Những phim/chương trình TV lấy cảm hứng từ Nữ hoàng sông Nil:
(1917): Cleopatra: Theda Bara (Cleopatra), Fritz Leiber (Caesar), Thurston Hall (Antonius). Đạo diễn J. Gordon Edwards. Dựa trên vở kịch Cléopatre của Émile Moreau, vở Cléopatre của Sardou và Antony and Cleopatra của Shakespeare.
(1934): Cleopatra: Claudette Colbert (Cleopatra), Warren William (Caesar), Henry Wilcoxon (Antonius). Một công trình của nhà đoạt giải Oscar Cecil B. DeMille.
(1946): Caesar and Cleopatra: Vivien Leigh (Cleopatra), Claude Rains (Caesar), Stewart Granger, Flora Robson — dựa trên vở kịch của George Bernard Shaw và được đề cử giải Oscar. Leigh cũng đóng vai Cleopatra cùng với người sau này trở thành chồng bà, Laurence Olivier đóng vai Caesar, trong một vở kịch trên sân khấu tại London.
(1953): Serpent of the Nile: Rhonda Fleming (Cleopatra), Raymond Burr (Marcus Antonius), Michael Fox (Augustus).
(1963): Cleopatra: Elizabeth Taylor (Cleopatra), Rex Harrison (Caesar), Richard Burton (Antonius). Đoạt giải Oscar được nhớ nhất về vụ tình ái sau sân khấu giữa Taylor và Burton và chi phí sản xuất lớn nhất thời đó, $44 triệu.
(1964): Carry On Cleo, một phiên bản bắt chước lại bộ phim năm 1963, Amanda Barrie đóng vai Cleopatra, Sid James vai Marcus Antonius và Kenneth Williams vai Caesar.
(1970): Kureopatora (Cleopatra: Queen of Sex), một bộ phim hoạt họa Nhật Bản kỳ lạ của Osamu Tezuka. Phiên bản có phụ đề tiếng Anh đã bị mất.
(1974): Antony & Cleopatra: được trình diễn bởi Royal Shakespeare Company ở Luân Đôn. Vai chính Janet Suzman (Cleopatra), Richard Johnson (Antonius) và Patrick Stewart (Enobarbus).
(1999): Cleopatra (phim): Leonor Varela (Cleopatra), Timothy Dalton (Caesar), Billy Zane (Antonius). Dựa trên cuốn sách Memoirs of Cleopatra của Margaret George và gần với sự thực nhất.


Tranh, điêu khắc cổ
Bức tranh nổi tiếng nhất về Cleopatra là bức không tồn tại nữa bởi vì vị nữ hoàng đã chết ở Ai Cập một thời gian dài trước khi Augustus giành được quyền lực ở Roma và nhờ vậy Cleopatra cũng lấy lại được uy danh của mình, ông đã ra lệnh vẽ một bức tranh lớn về bà và đưa nó đi trong lễ diễu hành chiến thắng, có lẽ trong bức tranh đó bà được thể hiện khi đang bị rắn độc cắn. Nguồn của câu chuyện này tại Plut. Ant. 86 và App. Civ. II.102, dù rằng nguồn sau thật sự nói về một bức tượng, và Cass. Dio LI.21.3 cho rằng "hình ảnh" đó làm bằng vàng, và vì thế không phải là một bức tranh. Bức tranh ấy được tái hiện trong một bản khắc đầu thế kỷ 19: nó thuộc một bộ sưu tập cá nhân gần Sorrento. Từ đó, bức tranh này đã bị cho là thuộc về bộ sưu tập ở Cortona, nhưng cũng không còn dấu vết nào về nó; sự biến mất âm thầm của bức tranh có lẽ vì nó chỉ là đồ giả mạo. Để có thêm thông tin về toàn bộ vấn đề, xem các liên kết ngoài ở cuối bài.

Tranh, từ thời Phục hưng về sau
Cleopatra và cái chết của bà đã trở thành cảm hứng sáng tác cho hàng trăm bức họa Thời Phục Hưng cho tới tận ngày nay, tất nhiên không bức nào có giá trị lịch sử; chủ đề này đặc biệt lôi cuốn các họa sĩ hàn lâm Pháp.
Sir Thomas Browne: Of the Picture describing the death of Cleopatra (1672)
John Sartain: On the Antique Portrait of Cleopatra (1818)

Nhạc kịch Opera
Cleopatra đã xuất hiện với tư cách một nhân vật trong các vở opera của Handel, Carl Heinrich Graun, Johann Adolf Hasse và Johann Mattheson
Antony and Cleopatra của Samuel Barber diễn khai trương nhà hát Metropolitan Opera House mới năm 1966.

Hội họa 

Suicide of Cleopatra. Sơn dầu. 46 x 36-3/4 in. (116.8 x 93.3 cm) Giovanni Francesco Barbieri sáng tác, cũng được gọi là Guercino. Vẽ năm 1621 và treo trong bộ sưu tập của Bảo tàng Norton Simon tại Pasadena, California. Nó thể hiện Cleopatra và trong tay bà là một con rắn đang sắp được dùng để tự tử.
Cleopatra and the Peasant (1838). Sơn dầu. Eugène Delacroix vẽ. Treo tại Bảo tàng Ackland Art của Đại học North Carolina. Tác phẩm thể hiện một người đàn ông đang trao cho Cleopatra con rắn để bà tự sát.
The Death of Cleopatra, Jean André Rixens sáng tác năm 1874 và treo tại Bảo tàng Augustins ở Toulouse, Pháp.

Guido Cagnacci, Cái chết của Cleopatra, 1658
The Death of Cleopatra, Guido Cagnacci sáng tác năm 1658. Sơn dầu. Treo tại Bảo tàng Vienna Kunsthistorisches.
Guido Cagnacci, Cái chết của Cleopatra, 1658

Victoria Art Gallery, Bath - Không biết tên nghệ sĩ sáng tác (có thể phỏng theo bức), Suicide of Cleopatra

The Banquet of Cleopatra (1743–5). Sơn dầu, 248.2 x 357.8cm. Giambattista Tiepolo (1696–1770) sáng tác, treo tại National Gallery of Victoria, Australia, thể hiện bữa tiệc lớn khi Cleopatra ngâm đôi hoa tai ngọc trai của mình trong cốc dấm.
Cléopâtre et César (1866). Sơn dầu. Jean-Léon Gérôme (1824–1904) sáng tác. Bức nguyên bản đã mất, chỉ còn lại các bản copy. Bức tranh thể hiện Cleopatra đứng phía trước, Caesar ngồi phía sau, vẽ theo phong cách Orientalist.

Nguồn :  http://vi.wikipedia.org/wiki/Cleopatra_VII









Cleopatra - người phụ nữ quyền lực nhất của thế giới cổ đại

Cleopatra, nữ hoàng của Ai Cập cổ đại đã truyền cảm hứng cho vô số tác phẩm nghệ thuật hơn hai nghìn năm qua. Nhưng liệu Cleopatra xinh đẹp như truyền thuyết?



Vị nữ hoàng nổi tiếng của Ai Cập cổ đại có tên đầy đủ là Cleopatra VII Philopator. Bà thường được gọi đơn giản là Cleopatra. Dù nhiều Nữ hoàng Ai Cập khác cũng có tên này song tất cả hầu như đã bị quên lãng. Nữ hoàng Cleopatra lên nắm quyền khi bà mới 17 tuổi và cai trị Ai Cập cổ đại từ năm 51 - 30 Trước Công nguyên, trước khi Chúa Kitô ra đời.

Huyền thoại về sắc đẹp của bà được xây dựng dựa trên mối quan hệ giữa bà với Julius Caesar và Mark Antony - hai nhà lãnh đạo La Mã hùng mạnh. Nhưng bà có thực sự sở hữu vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành như vậy? Để trả lời, chúng ta hãy nhìn vào những bằng chứng lịch sử và khảo cổ học.


Lâu nay, Cleopatra luôn được thể hiện trong hình tượng  khêu gợi như thế này
Lâu nay, Cleopatra luôn được thể hiện trong hình tượng 
khêu gợi như thế này - (Ảnh: Granger Collection, New York)


Hai thế kỷ sau khi Cleopatra trị vì Ai Cập cổ, sử gia người La Mã - Cassius Dio đã mô tả Cleopatra là "người phụ nữ có vẻ đẹp vượt trội" và "cực kỳ thông minh". Còn sử gia người Hy Lạp – Plutarch cho rằng "nhan sắc của bà không đủ nổi bật để có thể khiến ai vừa gặp cũng phải ngẩn ngơ".

Không hề có bức tượng bán thân nào được cho là khắc họa Cleopatra nhưng chúng ta có những hình ảnh khác nhau của bà trên những đồng tiền xu cổ đại. Trong những hình ảnh này, vẻ ngoài của bà hết sức bình thường, chiếc mũi khoằm và nam tính. Tuy nhiên, đồng tiền trong thế giới cổ đại chỉ mang mục đích tuyên truyền chính trị. Có thể bà cố ý khắc họa chân dung nam tính để hợp pháp hoá sự cai trị của một nữ hoàng trẻ.

Cũng cần lưu ý rằng, quan niệm về vẻ đẹp của người cổ đại rất khác với quan niệm của thế giới hiện đại. “Cleopatra có đẹp hay không?” có lẽ là câu hỏi vô ích nếu bà thực sự xinh đẹp trong mắt của những người sống trong thời kỳ đó.

Hoặc có thể chúng ta cần hiểu vẻ đẹp không phải là khái niệm đơn thuần, liên quan tới thân thể. Sử gia Dio cũng nói rằng, Cleopatra có "giọng nói ngọt ngào và biết cách làm cho mình hòa hợp với mọi người". Tương tự như vậy, sử gia Plutarch nói rằng, việc trò chuyện với nữ hoàng Cleopatra "có sự quyến rũ không thể cưỡng lại."

Sức hấp dẫn của Cleopatra không tới từ vẻ đẹp của cơ thể mà tới từ trí tuệ, tính cách và giọng nói của bà. Khi xem xét mối quan hệ sâu sắc giữa bà với Caesar và Antony, rõ ràng bà phải có sự hấp dẫn khác bởi cả hai đều là những người nổi tiếng là thu hút phụ nữ vì vậy họ sẽ không dễ dàng gục ngã trước Nữ hoàng chỉ bởi bà có cơ thể trẻ trung, quyến rũ.

Sắc đẹp của Nữ hoàng Cleopatra không vượt trội so với những người phụ nữ khác nhưng chính nhờ trí thông minh, quyến rũ và táo bạo, bà đã tiếp cận được hai trong số những người đàn ông quyền lực nhất của thế giới cổ đại.

Vẻ đẹp nổi tiếng nhất trong lịch sử nhân loại của Nữ hoàng Cleopatra là vẻ đẹp xất phát từ trí tuệ và bản lĩnh. Đây là bài học lớn cho chúng ta về cách định nghĩa vẻ đẹp trong thế giới hiện đại.


Nhà khoa học Cleopatra


Nữ hoàng Cleopatra có thể không gợi tình như mô tả của các học giả Hy Lạp và La Mã, mà là một nhà khoa học tài giỏi.

Theo một cuốn sách mới, nữ hoàng Ai Cập Cleopatra là người am hiểu toán, hóa học, đồng thời là một triết gia. Hằng tuần, bà thường xuyên gặp gỡ các nhà khoa học khác. Cuốn sách này có nhan đề Ai Cập học: Thiên niên kỷ bị thất lạc, Ai Cập cổ trong các tài liệu viết tay Ả Rập thời trung cổ, sẽ được Nhà xuất bản của Đại học London (UCL) phát hành trong tháng 1. Theo đó, Okasha El Daly - nhà Ai Cập học của UCL - đã tìm thấy những bản viết tay tiếng Ả Rập trung cổ chưa từng được phát hiện trước đây. Ông đã chuyển ngữ và phân tích nội dung các bản chữ dựa trên kiến thức về lịch sử Ai Cập thời đầu.


Theo chuyên gia El Daly, tài liệu chữ Ả Rập đầu tiên về nhà khoa học Cleopatra được ghi lại bởi Al-Masudi, qua đời vào năm 956. Trong cuốn sách Muruj, Al-Masudi viết về Cleopatra như sau: “Nàng là nhà hiền triết, triết gia, đã nâng cao địa vị của các học giả và vui thích với sự đồng hành của họ. Nàng cũng viết sách về y học, bùa chú và mỹ phẩm, bên cạnh nhiều quyển sách khác là tài liệu phổ biến trong giới những người thực hành y khoa”.

Những tác giả thời Ả Rập trung cổ như Al-Bakri, Yaqut, Ibn Al-Ibri, Ibn Duqmaq và Al-Maqrizi cũng đã bày tỏ sự ấn tượng về những dự án xây dựng của nữ hoàng. Trên thực tế, El Daly cho rằng những quyển sách Ả Rập đầu tiên đề cập về Cleopatra và lịch sử Ai Cập do giám mục John xứ Nikiou (cũng là người Ai Cập) viết. Trong đó đã nói về những công trình kiến trúc của nữ hoàng ở Alexandria, với nhiều lời ngợi khen. Còn một sử gia Ả Rập khác, ông Ibn Ab Al-Hakam, cho rằng chính Cleopatra là người đứng sau công trình hải đăng xứ Alexandria, một trong những cấu trúc vĩ đại nhất của thế giới cổ đại.

Trả lời phỏng vấn Đài phát thanh Hà Lan, chuyên gia El Daly cho biết hải đăng xứ Alexandria không chỉ đóng vai trò là đèn biển, mà còn là một kính viễn vọng vĩ đại, có thấu kính khổng lồ dùng để đốt cháy tàu thuyền địch có ý đồ tấn công Ai Cập. Còn những nguồn tài liệu Ả Rập khác chỉ ra Cleopatra đã tạo ra công thức trị rụng tóc và thậm chí nghiên cứu cả khoa sản (thực hiện thí nghiệm theo dõi các giai đoạn phát triển của bào thai trong bụng mẹ), chưa kể khả năng giả kim tài tình.

Để giải thích về sự bất nhất của hình ảnh Cleopatra trong giới sử học, chuyên gia El Daly lý luận rằng những thông tin trước đây về nữ hoàng Ai Cập đều đến từ kẻ thù, những kẻ muốn bôi xấu và biến bà thành một phụ nữ chỉ giỏi chuyện cám dỗ đàn ông. Tuy nhiên, Giáo sư Mary Lefkowitz của Đại học Wellesley (Mỹ) không đồng ý về suy đoán trên. “Trên thực tế, người Ai Cập say mê Cleopatra, dù họ có e sợ về uy quyền của bà đi chăng nữa”, theo Lefkowitz. Các chuyên gia khác cũng ủng hộ giả thuyết mới về một Cleopatra - nhà khoa học.


Cleopatra - Nữ hoàng sắc sảo của thế giới cổ đại


Cleopatra có lẽ là vị nữ hoàng nổi tiếng nhất của thế giới cổ đại. Bà nổi tiếng không chỉ với sắc đẹp của mình mà còn chính vì những nét sắc sảo thông minh của mình và đã trở thành đề tài khai thác của nhiều tác phẩm điện ảnh, sân khấu. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn đọc hiểu rõ hơn một vài nét chính cuộc đời và những sự kiện xung quanh người phụ nữ đầy quyền lực này.

 Điều ít biết về các con nữ hoàng Cleopatra 

Cleopatra lên nắm quyền khi bà mới 17 tuổi và cai trị Ai Cập cổ đại từ 51-30 Trước CN. Là một thành viên của nhà Ptolemy, Cleopatra là người Macedonia, tuy nhiên bà vẫn là một vị nữ hoàng của Ai cập và được dân chúng tôn thờ như một vị chúa trời. Cleopatra cũng là vị pharoah cuối cùng của Ai Cập, và nổi tiếng cùng những mối quan hệ chính trị phức tạp với đế chế La Mã. Mối quan hệ giữa Cleopatra và các nhà lãnh đạo La Mã là Julius Caesar, Mark Antony, và Augustus - kẻ thù của bà đã dẫn tới cái chết đầy bi kịch của Cleopatra sau này và đã trở thành nguồn cảm hứng khai thác của rất nhiều kịch bản sân khấu, phim ảnh.

Nữ hoàng Cleopatra


Người phụ nữ cai trị Ai Cập
Theo phong tục của người Ai Cập lúc đó, Cleopatra đã buộc lấy người em trai là Ptolemy XIII khi Ptolemy mới 12 tuổi để kế thừa ngôi trị vì từ người cha quá cố. Tuy nhiên bà đã sớm xóa tên người chồng khỏi các văn bản chính thức, bỏ qua truyền thống của nhà Ptolemy rằng sự hiện diện của người nam giới là điều bắt buộc khi có sự chia sẻ quyền lực. Bà cũng khắc bức chân dung và tên của riêng mình đồng tiền thời đó và bỏ qua người anh em của mình. Vậy tại sao mà nữ hoàng Ai Cập lại có thể hành động như vậy? Câu trả lời là có lẽ người phụ nữ Ai Cập được thừa nhận có khả năng thừa hành quyền lực và xử lý các công việc triều đình.

Dẫu người phụ nữ có nhiều quyền lợi nhưng Ai Cập không phải là một xã hội công bằng khi có sự phân hóa theo tầng lớp xã hội. Người phụ nữ không có quyền thừa kế bình đẳng với người đàn ông và chỉ có một số ít là được học hành. Bên cạnh đó tuy không bị giới hạn về mặt luật pháp, phong tục của người Ai Cập quy định rằng tầng lớp phụ nữ trung và thượng lưu thường xuyên phải gánh vác trọng trách nuôi dưỡng con cái và các hoạt động thường ngày của gia đình.

Tiền Ai Cập cổ đại

Cleopatra và Caesar
Để xóa bỏ quan hệ ràng buộc của bản thân với Ptolemy XIII, người đã buộc bà phải sống lưu vong sau một thời gian độc chiếm cai trị Ai Cập, Cleopatra cần sự hỗ trợ của người La Mã. Sau khi bà tiếp cận và chinh phục được Caesar, Ptolemy đã bị giết. Sau đó vào năm 47 TCN, để tái lập ngôi báu và đã kết hôn với người em trai khác là Ptolemy XIV mới có 11 tuổi. Cũng từ đó, mối quan hệ tình ái giữa Cleopatra và Caesar bắt đầu. Sau khi đã có được Ai cập nhờ sự giúp đỡ của Caesar, bà ta đã đẩy Caesar vào thế khó xử khi nhất quyết phải ép ông đưa mình về Rome.

Liên minh giữa Cleopatra và Julius Caesar sau đó đã càng được củng cố thêm với sự ra đời của con trai giữa hai người là Caesarion, nhằm xây dựng Ai Cập trở lại với vị thế vốn có sau thời gian dài suy yếu. Những người cộng hòa ở La Mã tự nhận là Liberators (phe tự do), do Gaius Cassius Longinus và Marcus Junius Brutus cầm đầu đã ngăn chặn kế hoạch đó bằng cách quyết định giết hại Ceasar ngay tại Viện Nguyên lão Pompey. Sau vụ ám sát đó, Cleopatra đã quay trở về Ai Cập và lập Caesarion làm người đồng cai trị và thừa kế sau khi người em trai thứ hai cũng bị sát hại.

Cleopatra và Caesar

Mark Antony
Sau vụ ám sát Caesar vào ngày 15 tháng 3 năm 44 trước CN, Mark Antony một trong những thành viên Tam đầu chế cai trị Roma khi có khoảng trống quyền lực sau khi Caesar chết đã lên kế hoạch gặp gỡ nữ hoàng Cleopatra của Ai Cập. Tuy đã kết hôn với một người phụ nữ La Mã là Octavia, chị gái của Octavian - người kế nhiệm hợp pháp ngai vàng của Caesar, nhưng Antony vẫn yêu say đắm vị nữ hoàng đầy quyền lực. Octavin đã làm cho người La Mã tin rằng Mark Antony đang chuẩn bị để chuyển giao quyền lực, thứ lẽ ra là của họ cho Cleopatra. Đứng giữa mối đe dọa tiềm tàng này, cuộc cạnh tranh để thừa kế quyền lực của Ceasar đã làm tình hình ở Rome cực kì căng thẳng. Cuối cùng, Mark Antony đã li dị người vợ La Mã của mình sau khi Octavian tuyên chiến với ông và tình nhân.

Ai Cập thuộc về La Mã
Cuối cùng sau khi thất bại tại trận chiến Actium ở ngoài khơi Hy Lạp năm 31 TCN, Antony đã tự tử cùng với Cleopatra, theo như lời đồn là bỏ một con rắn độc vào ngực bà. Quân La Mã của tướng Octavian vào lãnh thổ Ai Cập và diệt vương triều của Cleopatra. Gia tộc Ptolemy đã cai trị Ai Cập kể từ sau cái chết của Alexander Đại Đế vào năm 323 trước CN. Tuy nhiên Rome luôn muốn xâm chiếm Ai Cập và chỉ có cách triều cống mới giúp gia tộc Ptolemy tồn tại trước đế chế La Mã hùng mạnh. Nhưng sau cái chết của Cleopatra thì cuối cùng Ai Cập cũng đã thuộc về Rome.

Nguồn :  http://khoahoc.tv/khampha












 -------------------------------------------------------------------------------------------

 Người có học biết mình ngu dốt. The learned man knows that he is ignorant. Victor Hugo.













Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2015

Nghìn lẻ một đêm .


Nghìn lẻ một đêm . 



Đọc trực tuyến trên Calaméo





Đọc trực tuyến trên wattpad












Xem phim trực tuyến









 -------------------------------------------------------------------------------------------

 Người có học biết mình ngu dốt. The learned man knows that he is ignorant.

 Victor Hugo.



Thứ Năm, 4 tháng 12, 2014

THUYẾT VẠN VẬT - THEORY OF EVERYTHING . Phần 1.2



THUYẾT VẠN VẬT - 
THEORY OF EVERYTHING .

Phần 1.2 



Nguyên lý vị nhân  hay  có một nhà thiết kế vũ trụ ?

Nhà vật lý học Steven Weinberg rất nổi tiếng khi đã tuyên bố rằng "vũ trụ dường như càng dễ hiểu, càng có vẻ vô nghĩa hơn ". Theo người đoạt giải Nobel này, những gì các nhà vật lý được phát hiện thông qua khoa học là "một thế giới khách quan chi phối bởi định luật toán học mà không phải là đặc biệt quan tâm đến con người, trong đó con người xuất hiện như là một hiện tượng cơ hội."
Nhưng nếu Weinberg diễn giải "luật thiên nhiên" toán học là không có gì để làm việc đối với con người, thì những người khác lại có cách giải thích khác nhau. Một số ngày càng tăng các nhà vật lý thấy được những quy luật này rất là "tinh chỉnh" để cho phép có sự xuất hiện cuộc sống. Quan điểm này được gọi là "Nguyên lý vị nhân".

Tất cả ba của lực hấp dẫn, điện, và từ đều tuân theo "luật nghịch đảo bình phương" - đó là lực hấp dẫn hay đẩy giữa hai vật thể , tính bằng nghịch đảo của bình phương khoảng cách giữa chúng. [Lực tỉ lệ với
$1/d^2$] . Bây giờ sẽ xảy ra trường hợp nếu mối quan hệ lực-khoảng cách là bất kỳ điều gì khác hơn là một định luật nghịch đảo này khi đó hệ thống năng lượng mặt trời và các nguyên tử sẽ không ổn định .
Nếu lực hấp dẫn mạnh lên, hệ thống năng lượng mặt trời ổn định  không thể hình thành do các hành tinh sẽ nhanh chóng bị rơi theo đường xoắn ốc vào mặt trời. Tương tự như vậy, nếu các lực điện mạnh hơn , các nguyên tử ổn định không thể hình thành vì các điện tử sẽ bị cuốn theo đường xoắn ốc vào hạt nhân. Tương tự, nếu lực hấp dẫn yếu hơn , các hành tinh sẽ có xu hướng trôi dạt vào không gian và không quay trên quỹ đạo vốn có . Vì vậy, có vẻ như định luật nghịch đảo bình phương thật là đặc biệt bất ngờ. Nó không chỉ cho phép sự hình thành của các nguyên tử (mà rõ ràng là cần thiết cho sự phát triển của cuộc sống), mà còn cho phép sự hình thành của hệ thống năng lượng mặt trời để cung cấp cho sự sống .

Có thể thấy rằng vũ trụ có đầy đủ các ví dụ như thế , trong đó bản chất của một định luật vật lý, hoặc giá trị của các hằng số là rất quan trọng (chẳng hạn như tỷ lệ proton-electron ) lại có vẻ ngẫu nhiên. Bất kỳ sự thay đổi nào về các giá trị đó dường như sẽ ném các cấu trúc hoặc tính ổn định của vũ trụ rất đồng đều ra khỏi trật tự và rất khó để nhận thấy cuộc sống có thể tiến hóa trong một vũ trụ như vậy. Đối với các nhà vật lý như Barrow và Tipler, điều này ngụ ý rằng một cái gì đó đã cẩn thận "điều chỉnh" quy luật tự nhiên do đó cuộc sống sẽ tiến hóa. Còn theo các nhà khoa học khác , những định luật của tự nhiên mà Weinberg đã cho là hoàn toàn khách quan, thì họ cho rằng có sự hiện diện của một trí thông minh sâu sắc chu đáo hành động đằng sau hậu trường - một thực thể mà theo một số cảm giác "đã muốn"  những tạo vật như chúng ta phát triển.

Trần hồng Cơ

Ngày 28/11/2014 .



Đọc tài liệu trực tuyến 

http://www.hc10.eu/Theory_of_everything.pdf








Xem thêm về Hố đen .


 






Đường dẫn

1. http://www.hc10.eu/
2. http://en.wikipedia.org/wiki/Theory_of_everything
3. http://abyss.uoregon.edu/~js/21st_century_science/index.html
4. http://www.pnas.org/content/97/1/28.full.pdf
5. http://www.pnas.org/content/97/1
6. http://www.pbs.org/faithandreason/intro/purpotoe-frame.html
7. http://www.motionmountain.net/online.html





 -------------------------------------------------------------------------------------------

 Chúng ta phải biết và chúng ta sẽ biết .

 David Hilbert .

Thứ Tư, 3 tháng 12, 2014

THUYẾT VẠN VẬT - THEORY OF EVERYTHING . Phần 1.1


THUYẾT VẠN VẬT - 
THEORY OF EVERYTHING .

Phần 1.1


Chúng ta đã đạt đến một điểm đặc biệt trong lịch sử khoa học, đối với một số nhà vật lý tin rằng bây giờ họ đang ở trên bờ vực của việc có một lý thuyết duy nhất sẽ liên kết tất cả các khoa học của họ dưới chiếc ô toán học. Đặc biệt lý thuyết này sẽ thống nhất hai pháo đài lớn của vật lý trong thế kỷ XX - lý thuyết tương đối tổng quát và lý thuyết lượng tử. Từ thuyết tương đối tổng quát mô tả quy mô lớn, hay vũ trụ, cấu trúc của vũ trụ, và lý thuyết lượng tử mô tả  cấu trúc vi mô , hoặc hạ nguyên tử, sự thống nhất của các lý thuyết sẽ giải thích cả hai hiện tượng :  rất lớn và rất nhỏ. Lý thuyết này thường được gọi là một " thuyết vạn vật - TOE ( theory of everything )".


Đặc biệt lý thuyết này sẽ thống nhất sự hiểu biết của chúng ta về tất cả các lực vật lý cơ bản trong vũ trụ . Có bốn lực như vậy mà các nhà vật lý đã từng biết đến  :

1. Lực hấp dẫn (giữ hành tinh quay xung quanh mặt trời , và chịu trách nhiệm cho sự hình thành của các ngôi sao và thiên hà) .
2. Lực điện từ (đó là lực chịu trách nhiệm đối với ánh sáng, nhiệt, điện, và từ tính; và cũng có nhiệm vụ giữ nguyên tử với nhau) .
3. Lực hạt nhân yếu (hoạt động bên trong hạt nhân nguyên tử, và chịu trách nhiệm cho một số loại phân rã phóng xạ) .
4. Lực hạt nhân mạnh (giữ các proton và nơtron trong hạt nhân nguyên tử, và do đó rất quan trọng cho sự ổn định của vật chất). 


Bản đồ các lỗ rỗng và siêu thiên hà trong vòng 500 triệu năm ánh sáng từ thiên hà Milky 


Hiện nay các nhà vật lý đã có những lý thuyết riêng biệt cho mỗi  lực , nhưng họ muốn một lý thuyết thống nhất của tất cả các lực này . Mục tiêu đó đã phần nào được thực hiện và bây giờ có một lý thuyết trong đó hợp nhất hai trong số các lực  - lực điện từ và lực yếu - nhưng thống nhất tất cả bốn lực đang được thực tế chỉ ra là vô cùng khó khăn. Tuy nhiên, hầu hết các nhà vật lý TOE tự tin rằng mục tiêu này sẽ được thực hiện trong vài thập kỷ tới.

Nhà Vật lý lý thuyết, Steven Weinberg, người đóng một vai trò quan trọng trong việc thống nhất các lực điện từ và yếu ( ông đã được trao giải thưởng Nobel cao quý, cùng với các đồng nghiệp Abdus Salam và Sheldon Glashow), đã từng gọi lý thuyết của tất cả bốn lực là "lý thuyết cuối cùng" . Khi các nhà vật lý tìm thấy lý thuyết này, ông và những người khác đã gợi ý,  vật lý sẽ có hiệu quả tối ưu và đạt đến sự kết thúc của nó. Bấy giờ toàn bộ vũ trụ vật chất sẽ được bao phủ bởi một tập hợp các phương trình - hoặc có lẽ chỉ là một phương trình. Nhưng câu hỏi ấy vẫn còn nguyên và chưa có lời giải đáp , các phương trình đó nghĩa là gì?


Trần hồng Cơ

Ngày 28/11/2014 .



-----------

Đọc tài liệu trực tuyến 

http://www.hc10.eu/Theory_of_everything.pdf













---------

Đường dẫn

1. http://www.hc10.eu/
2. http://en.wikipedia.org/wiki/Theory_of_everything
3. http://abyss.uoregon.edu/~js/21st_century_science/index.html
4. http://www.pnas.org/content/97/1/28.full.pdf
5. http://www.pnas.org/content/97/1
6. http://www.pbs.org/faithandreason/intro/purpotoe-frame.html
7. http://www.motionmountain.net/online.html



------------------------------------------------------------------------------------------- 

 Chúng ta phải biết và chúng ta sẽ biết . 

 David Hilbert .

Thứ Hai, 10 tháng 11, 2014

NANH TRẮNG - JACK LONDON .


NANH TRẮNG - JACK LONDON .









Nanh Trắng (nguyên tác tiếng Anh: White Fang) (1906) là một cuốn tiểu thuyết của nhà văn Mỹ   Jack London. Tiểu thuyết này đã được đăng từng kỳ lần đầu tiên trên Tạp chí Outing từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1906.

Giới thiệu cốt truyện

Nanh Trắng là một câu truyện về cuộc hành trình của một con chó sói lai chó nhà để trở thành một kẻ được khai hóa trong lãnh thổ Yukon của Canada trong thời kỳ đổ xô đi tìm vàng Klondike cuối thế kỷ 19. Nanh Trắng là một tiểu thuyết đồng hành (có cốt truyện và hoàn cảnh gần tương tự) với một tiểu thuyết nổi tiếng khác của cùng tác giả là Tiếng gọi nơi hoang dã (The Call of the Wild) kể về một chú chó tên Buck bị những người đi tìm vàng bắt làm chó kéo xe và đã bị bản năng hoang dã biến thành một chú chó hoang hung dữ.
Tác phẩm này mang đặc thù phong cách văn xuôi chính xác của Jack London và cách sử dụng giọng văn và phối cảnh sáng tạo của ông. Phần lớn nội dung tiểu thuyết được viết từ lối nhìn của động vật, cho phép Jack London khảo sát cách mà loài vật nhìn nhận thế giới của chúng và cách mà chúng nhìn nhận loài người. Nanh Trắng khảo sát thế giới bạo lực của dã thú, và thế giới không kém phần bạo lực của nhân loại được-xem-là-văn-minh. Cuốn sách cũng đề cập đến những chủ đề phức tạp hơn: luân lý và sự cứu chuộc.
Nanh Trắng đã được chuyển thể thành phim nhiều lần, bao gồm bộ phim năm 1991.

Bản dịch tiếng Việt

Nanh Trắng, Bảo Hưng dịch, Quỳnh Hải Hà hiệu đính, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1997

TẬP 6  http://phimvang.com/node/7953/3nsb7GQtBRDUbx7bigfLng


TẬP 7  http://phimvang.com/node/7953/yqmtStoJXuAnEle_fAAysw












 ------------------------------------------------------------------------------------------- 

 Chúng ta phải biết và chúng ta sẽ biết . 

 David Hilbert .

*******

Blog Toán Cơ trích đăng các thông tin khoa học tự nhiên của tác giả và nhiều nguồn tham khảo trên Internet .
Blog cũng là nơi chia sẻ các suy nghĩ , ý tưởng về nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau .


Chia xẻ

Bài viết được xem nhiều trong tuần

CÁC BÀI VIẾT MỚI VỀ CHỦ ĐỀ TOÁN HỌC

Danh sách Blog

Thông tin hàng ngày.

Giới thiệu bản thân

Ảnh của Tôi


Các chuyên đề ứng dụng .

1. Phương trình vi phân  
2. Toán đơn giản - College Algebra 
3. Toán thực hành - Practical Mathematics 
4. Vật lý tổng quan ( đang viết )
5. Phương trình tích phân 
( đang chuẩn bị ) 

Gặp Cơ tại Researchgate.net

Co Tran